Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
Sao Lòng Ta Chưa Nguôi ...khi Đọc ĐỖ NGHÊ  

Cầm trên tay tập Thơ ngắn Đỗ Nghê, tôi chợt nghĩ đến tên gọi của tiểu thuyết. Bởi vì tác giả Đỗ Hồng Ngọc đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Thơ ngắn. Thế nào là ngắn? Thế nào là dài? Ngắn nhất là tiểu thuyết, dài nhất cũng là tiểu thuyết. Ngôn hữu tận, ý vô cùng. Làm sao so ngắn dài khi Lý Bạch đã từng khẳng định: “Thi thành thảo thụ giai thiên cổ” (Bài thơ làm xong, cỏ cây đều đã trở thành thiên cổ). “Thiên cổ” là nghìn xưa, là quá khứ. Đối với người phương Đông, quá khứ bao giờ cũng gắn với giá trị. Con dấu thời gian mỗi khi đã chạm khắc vào một sự vật hiện tượng gì thì bản thể đó mặc nhiên có giá trị. Bài thơ làm xong, tất cả thoắt trở thành thiên cổ. Câu thơ hay thường được khen là “thiên cổ lệ cú” (câu thơ đẹp ngàn năm). Giá trị của thơ ca, của văn học không thể đo bằng sự ngắn dài của câu chữ, mà chỉ có thể đo bằng sự ngắn dài của ý nghĩa nhân sinh, của thành tựu nghệ thuật và sức sống của nó trong lòng người đọc. Tuy nhiên, khi thơ càng ngắn, độ hàm súc càng cao, ý nghĩa càng bung tỏa thì lại càng thú vị. Có lẽ đây là quan niệm về thơ mà tác giả Đỗ Hồng Ngọc tâm đắc, nên đã lấy thể thơ ngắn làm đại diện cho cả những bài thơ dài trong toàn tập. (NGUYỄN THỊ TỊNH THY) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 21/2/2018
Xem chi tiết bản tin

Còn ai nhớ tiếng kêu đò?

Còn ai nhớ tiếng kêu đò?

* TRẦN HỮU NGƯ



“Một chiều nào trên bến cô liêu/ Xóm bên sông tiêu điều/ Buồn hắt hiu mây chiều/ Đò đưa người lữ thứ/… Người đi tha phương con đò chiều nay tơ vương mang nhiều tình thương/… Bến sông xưa vắng lặng tiếng ai ru lướt nhanh/”… (Nhạc phẩm Đò chiều của Trúc Phương)

Bây giờ không ai kêu đò, mà chỉ đợi đò, đợi phà. Hình ảnh người chèo đò để “đưa người ta qua sông” không còn nữa. Nếu có còn thì chỉ còn đò máy, và không phải chỉ đưa một người qua sông, mà cả đám qua sông!
Ngày xưa … tôi ở một làng quê, có con sông nhỏ, ông bà tổ tiên đã chọn một vùng đất hoang vu này xây làng dựng ấp, rồi chia làm hai xóm, bên này và bên kia sông, mỗi lần sang sông thì phải kêu đò.
Đò ơi, đò ơi…! Tiếng kêu ấy phải mở hết thanh quản, hai tay chụm lại đưa lên miệng làm thành loa hướng về phía bên kia sông kêu thật to “đò ơi… đò ơi”, và người chèo đò nghe được là nhổ sào… Nếu gặp hôm trời mưa gió, muốn qua sông thì ra dấu như vẫy tay, khăn, nón.
Tôi không dùng từ “gọi đò” mà là “kêu đò”, vì “gọi” có vẻ ra lịnh quá, qua sông thì phải “lụy đò” mà! “Kêu” là muốn nhờ vã, quá giang. Âm thanh của tiếng kêu đò, nếu vào đêm thanh vắng tối trời, nghe nó não nùng, có lẫn một chút ma quái. Con sông về đêm hình như hiền hơn, mé nước hai bên bờ chao nhẹ vào gốc bần rễ đước nghe tanh tách, làm những con chim ăn đêm giật mình bay vội.
Ngoài tiếng kêu đò, cuộc đời này còn có nhiều tiếng kêu như: kêu thầm, kêu thương, kêu gào, kêu cứu, kêu gọi… nhưng nghiệt ngã thay, không ít người lại dửng dưng trước những tiếng kêu ấy!
Tôi đã từng đi qua nhiều lần trên con sông này, đây chỉ là con sông nhỏ, nước cạn có thể cởi quần vắt vai lội qua… Đứng một chút cho ráo nước rồi bận quần vào ung dung đi tiếp. Lội qua sông mà không ướt quần, thế mới tài?
Đò ơi, đò ơi…! Đây là tiếng kêu theo thói quen lâu đời của những người kêu đò và nó ẩn chứa bên trong nỗi niềm “lụy đò”. Tại sao không kêu: đò ơi… đò! Thú vị biết bao, nếu người ta chịu khó để ý một chút “ văn phạm” lẫn một chút “triết lý” trong tiếng kêu ấy. Đò ơi… đò ơi! Là chưa xác định, là trong trạng thái chờ đợi, nhưng chờ đợi trong hy vọng , vì nếu có sẵn đò rồi thì đâu cần phải kêu… “đò”?
Con sông nhỏ, cái xóm nhỏ, ông chèo đò cũng nhỏ… tất cả đều nhỏ, vậy mà nơi đây đã làm lớn lên nhiều thế hệ những con người lao động chân tay, như ông lão chèo đò đây, chưa bao giờ ông đòi trả công tiền chèo đò (đưa cũng được, không đưa cũng chẳng sao), và tôi cũng đã nợ ông trên con sông nhỏ này khó mà trả dứt được! Ngày xưa ông nói với tôi: “Ông sống chỉ nhờ mấy con cua con cá, giăng lưới cắm câu, đổi gạo. Ông không cần tiền, “tiền là… bạc (bẽo)”, cháu thử nghĩ nếu mai này không còn ai kêu đò nữa thì ông buồn lắm và chẳng biết sống với ai?”.
Chiếc xuồng nhỏ, cột cây chèo nhỏ, trên con sông nhỏ và ông chèo đò cũng nhỏ… nhịp nhàng khuấy nước. Vì xuồng không có bánh lái, nên mới gọi là chèo đò?
Sau hòa bình tôi trở lại con sông này, nhưng nước đã cạn rồi, “sông có thể cạn”, và ông lão chèo đò không biết còn hay đã mất. Nếu còn sống chắc ông cũng còn chèo, nhưng không phải chèo ở dòng sông, mà chèo ở dòng… đời!!!

TRẦN HỮU NGƯ
(Viết về Cửa Cạn, con sông nhỏ ở Sở muối quê tôi)

Quay lại In bản tin n�y Gửi tin n�y cho bạn b�  
 
 
 C�C TIN TỨC KH�C
Hũ dưa kiệu của mẹ (19/02)
Có ai còn nhớ mùa gió chướng Tết năm xưa? (15/02)
Nhớ gì như nhớ Tết quê! (11/02)
Giai điệu rộn ràng chắp cánh mơ ước mùa xuân (09/02)
NGÀY XUÂN, TẢN MẠN VỀ MAI (05/02)
Một thời tết cũ (03/02)
HOAN HỈ LÒNG XUÂN (31/01)
Thời khắc cuối của năm (29/01)
Mênh mang tháng chạp... (24/01)
ĐẠI BÌNH - LÀNG CÂY TRÁI NAM BỘ (21/01)
Nàng Xuân và Boléro (19/01)
Nhớ mùi áo ấm xưa... (16/01)
MỚI ĐÓ, MÀ ĐÃ CUỐI NĂM! (06/01)
NHỚ MÙI KHÓI RẠ! (05/01)
ẤM ÁP MÙA NOEL Truyện ngắn Phan Trang Hy (22/12)

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem