Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
CAO THOẠI CHÂU ,NHÀ THƠ ,NHÀ GIÁO VỚI THI PHẨM : BẢN THẢO MỘT ĐỜI  

Nhà thơ Cao Thoại Châu tên thật là Cao Ðình Vưu, sinh năm 1939 tại Giao Thủy, Nam Ðịnh, di cư vào Nam năm 1954. Ông tốt nghiệp Ðại học Sư phạm Sài Gòn năm 1962. Nhiệm sở đầu tiên của ông là Trường Trung học Thủ khoa Nghĩa ở tỉnh Châu Đốc. Sau năm 1968 ông bị động viên vào quân ngũ .Năm 1970 ông được biệt phái về Bộ Quốc gia Giáo dục và thuyên chuyển về Trường Nữ Trung học Pleime của tỉnh Pleiku. Cao Thoại Châu dạy học tại đây cho đến ngày 30.4.75.Sau 1975, ông vào trại cải tạo 3 năm và cũng như nhiều nhà giáo khác, Cao Thoại Châu phải nghỉ dạy trong một thời gian khá lâu. Trong thời gian này ông làm thợ hồ sau đấy mới được gọi đi dạy lại tại trường Trung học Phổ thông Long An. Trước năm 1975 Thơ Cao Thoại Châu xuất hiện thường xuyên trên các tạp chí văn học: Văn, Văn Học, Khởi Hành, Thời Tập… Sau 1975 ông nghỉ viết trong 15 năm. Từ 1990 thơ ông mới xuất hiện trở lại trên các báo Thanh Niên, Kiến Thức Ngày Nay, Long An Cuối Tuần… Tác phẩm đã xuất bản: • Bản thảo một đời (thơ, 1992) • Rạng đông một ngày vô định (thơ, 2006) • Ngựa hồng (thơ, 2009) • Vớt lá trên sông (tạp bút, 2010) • Vách đá cheo leo (tạp bút, 2012) ...(TRẦN DZẠ LỮ) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 13/12/2018
Xem chi tiết bản tin

CÁI BẪY CHUỘT

Một mùa Giáng Sinh nữa lại về. Trong không khí Giáng Sinh rộn ràng, xin góp vui cùng giáo dân Kitô mừng ngày Chúa sinh ra đời bằng một truyện ngắn “cảm động và ấm áp tình người” mùa Giáng Sinh. Mời bạn đọc truyện “The rat trap” của nhà văn Thụy điển Selma Largerlof.

Nhà văn Selma Lagerlof sinh ngày 20 tháng Mười một năm 1858, tại Marbacka, Varmland, Thụy điển.
Năm 1881 bà vào học cao đẳng sư phạm tại Stockholm. Năm 1885 bà là giáo viên tại một trường nữ trung học ở Landskrona. Năm 1890 một tuần san Thụy điển trao cho bà giải nhất trong một cuộc thi văn chương, và in một số trích đoạn trong tác phẩm đầu tay, hay và nổi tiếng nhất của bà là Gosta Berlings Saga – Truyện cổ Yơxta Beclinh. Tác phẩm này được in năm 1891, nhưng không được chú ý cho tới khi bản dịch tiếng Đan mạch của nó được giới phê bình ca ngợi. Năm 1895 bà được gia đình hoàng tộc tài trợ và học viện Thụy điển khuyến khích bà thôi nghề dạy học để chuyển hẳn sang sáng tác. Bà đi du lịch ở Ý và viết Antikrists mirakler/ The Miracles of Antichrist /Những điều kỳ lạ của kẻ chống Chúa (1897), lấy bối cảnh ở Sicily. Sau nhiều tác phẩm không quan trọng bà xuất bản tác phẩm Jerusalem/The Holy City/ Thành phố Thánh (1901 – 1902), một tiểu thuyết viết về những người nông dân Thụy điển đã nhập cư đến vùng đất thánh mà bà đã viếng thăm trong năm 1900. Đây là tác phẩm thành công ngay tức khắc đầu tiên của bà. Năm 1906, bà xuất bản một tác phẩm hấp dẫn thiếu nhi toàn thế giới: Nils Holgerssons underbara resa genom Sverige/ The wonderful adventures of Nils/ Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils (1906). Vào giữa thế kỷ 20 bà xuất bản tác phẩm lịch sử ba tập: Löwensköldska Ringen(1925), Charlotte Löwensköld (1927), và Anna Svärd (1928) [The Ring of the Löwenskölds, 3 vols.]. Bà cũng in nhiều tập hồi ức dưới tựa Marbacka (1922 – 1932)
Bà được giải thưởng Nobel Văn chương năm 1909.
Bà mất ngày 16 tháng Ba năm 1940 (thọ 81 tuổi) cũng tại Marbacka, Varmland, Thụy điển.


CÁI BẪY CHUỘT

Truyện ngắn của Selma Lagerlof

Trước đây đã lâu có một người đàn ông đi bán dạo những chiếc bẫy chuột làm bằng dây kẽm. Ông tự tay làm ra chúng vào những lúc rảnh, bằng những vật liệu xin được từ những cửa hàng hay những trang trại lớn. Nhưng công việc của ông không có lời nhiều, nên ông đành phải vừa xin ăn vừa trộm vặt để sống. Quần áo của ông tàn tạ, gò má ông hóp, vẻ đói khát hiện trong mắt ông. Không ai có thể tưởng tượng được cuộc đời đơn điệu và buồn như thế nào đối với một người lang thang, chìm trong suy nghĩ như ông. Nhưng một hôm ông chợt nảy sinh một ý tưởng thực sự làm ông vui thích. Ông đang nghĩ rất bình thường về những chiếc bẫy chuột thì chợt nảy sinh ý tưởng rằng toàn bộ thế giới chung quanh – với đất liền và biển, thành phố và làng mạc – chỉ là một chiếc bẫy chuột lớn chứ chẳng là gì cả. Chiếc bẫy chuột lớn này tồn tại không vì mục tiêu nào khác ngoài việc gài bẫy con người. Nó mời mọc con người bằng sự giàu sang và sự vui thú, bằng chỗ cư trú và thực phẩm, chỗ sưởi ấm và quần áo, cũng y như chiếc bẫy chuột gài bẫy bằng phó mát và thịt, và ngay khi bất kỳ ai để mình bị cám dỗ sờ vào miếng mồi, nó bắt giữ người đó, vậy là mọi chuyện kết thúc. Dĩ nhiên thế giới chưa bao giờ tử tế đối với ông, vì thế ông cảm thấy một niềm vui hiếm hoi khi nghĩ xấu về nó theo cách này. Suy nghĩ này đã trở thành trò tiêu khiển của ông trong những chuyến lang thang, khi nghĩ về những người ông biết đã để cho mình bị giam cầm bởi chiếc bẫy nguy hiểm, và về những người khác vẫn còn đang lảng vảng chung quanh miếng mồi. Vào một đêm đen trong khi lê bước thì ông chợt thấy một mái nhà nhỏ ảm đạm ven đường, ông gõ cửa nhà để xin tạm trú qua đêm. Ông không bị từ chối. Khác với những bộ mặt chanh chua ông thường gặp, người chủ nhà này, là một ông già không vợ con, vui vẻ có được một người để chuyện trò cho vơi nỗi buồn cô quạnh. Ông già lập tức đặt nồi cháo lên bếp và dọn cho người lạ ăn, rồi ông ngắt một nhúm thuốc lá lớn từ cuộn thuốc của ông đủ cho cả hai nhồi tẩu thuốc. Cuối cùng chủ nhà lấy ra một cỗ bài cũ và chơi mjolis với người khách cho tới giờ đi ngủ. Ông già chủ nhà đãi khách cháo và thuốc lá thoải mái thế nào thì tâm sự với khách cũng thoải mái thế ấy. Khách được cho biết ngay rằng trong những ngày thịnh thời ông từng là một thợ cơ khí làm việc ở xưởng luyện kim Ramsjo Ironworks. Bây giờ khi ông không còn làm công ăn lương được nữa, ông sống nhờ con bò của ông. Phải, con vật đầu nổi u đó thật là đặc biệt. Nó cho sữa để sản xuất bơ hàng ngày, và tháng vừa rồi ông đã kiếm được tất cả ba mươi kronor(1) tiền bán sản phẩm. Chắc là người lạ có vẻ hoài nghi, nên ông già đứng dậy tới chỗ cửa sổ, lấy xuống một túi da treo trên cái đinh đóng ở khung cửa, lấy ra ba tờ bạc mệnh giá mười kronor nhăn nheo. Ông khoe mấy tờ bạc trước mắt người khách gật gù với vẻ hiểu biết, rồi cất lại vào túi.
Ngày hôm sau cả hai người thức dậy khi trời vừa sáng. Ông chủ nhà vội đi vắt sữa bò, người khách nghĩ không nên nằm nán trong giường khi chủ nhà đã dậy. Họ rời nhà cùng lúc. Ông chủ nhà khóa cửa và cất chìa khóa vào túi. Người bán bẫy chuột nói cám ơn và chào tạm biệt, sau đó đường ai nấy đi.
Nhưng nửa giờ sau người bán bẫy chuột đã lại đứng ngay trước cửa nhà đó. Nhưng không cố tìm cách vào nhà. Ông chỉ đến chỗ cửa sổ, đập kính cửa, thò tay vào lấy cái túi có đựng ba mươi đồng kronor. Ông ta lấy tiền cất vào túi. Rồi cẩn thận treo cái túi lại chỗ cũ và bỏ đi.
Khi đi với khoản tiền có được trong túi ông cảm thấy khá vui thích với sự tinh ranh của mình.
Dĩ nhiên ngay từ đầu ông nghĩ không dại gì đi theo đường cái, mà phải bỏ đường cái, rẽ vào rừng. Trong vài giờ đầu tiên việc luồn rừng chẳng khó khăn gì đối với ông. Tới trưa thì tình hình tệ hơn, vì ông đã đi vào một khu rừng lớn rậm rạp. Để chắc ăn, ông cố đi theo một hướng nhất định, nhưng những con đường mòn cứ lộn tới lộn lui một cách lạ lùng! Ông cứ đi mà không sao ra khỏi rừng được, cuối cùng thì nhận ra ông cứ quanh quẩn tại một khu vực của rừng. Bất chợt ông nhớ lại suy nghĩ về thế giới và cái bẫy chuột. Bây giờ thì đã tới lượt ông. Ông đã để mình bị cám dỗ bởi một miếng mồi và bị bắt. Cả khu rừng với những thân cây và cành nhánh, những bụi rậm và những khúc gỗ ngổn ngang, vây kín ông như một phòng giam không thể xuyên thủng không cách gì thoát được. Đã là cuối tháng Mười hai rồi. Bóng đêm đã buông xuống toàn khu rừng. Tình hình này càng làm tăng thêm nguy hiểm, cũng làm tăng thêm tình thế ảm đạm và tuyệt vọng của ông. Sau cùng khi không còn biết đường ra, ông ngồi bệt xuống đất, mệt mỏi hết sức, nghĩ rằng thời điểm cuối cùng của ông đã đến. Nhưng vừa khi ông gối đầu lên đất, ông nghe được tiếng động – một tiếng thình thịch đều đặn và chắc nịch. Không nghi ngờ gì về tiếng động ấy. Ông ngồi dậy. “Đó là những tiếng búa nện từ một xưởng đồ sắt,” ông nghĩ. “Chắc phải có người gần đây.” Ông gom hết sức mạnh, đứng dậy, và cất bước đi về hướng có tiếng động. Xưởng luyện kim Ramsjo Ironworks, bây giờ đã đóng cửa, nhưng hồi đó là một xưởng lớn chuyên nấu chảy kim loại, cán, rèn đồ sắt. Trong mùa hè, hàng dãy dài những thuyền và sà lan trọng tải chở hàng của xưởng theo sông đào xuôi về hồ lớn trong nội địa, và vào mùa đông những con đường gần nhà máy đen thui vì bụi than rơi từ những sọt đựng than.
Đó là một đêm đen trước ngày lễ Giáng sinh, người thợ cả của xưởng luyện kim và người thợ phụ ngồi trong xưởng tối gần lò nung chờ mẻ kim loại, đã được đưa vào lò, sẵn sàng để đặt lên đe. Thỉnh thoảng một trong hai người đứng dậy để đảo khối kim loại phát sáng bằng một thanh sắt dài, rồi chốc lát sau quay lại, mồ hôi nhỏ giọt, dù vậy, như thông lệ, anh ta không mặc gì ngoài chiếc áo sơ mi dài tay và một đôi giày gỗ.
Trong xưởng có nhiều tiếng động. Tiếng những ống thổi lớn rền rền và tiếng than cháy lách tách. Cậu trai đốt lò xúc than đổ vào lòng lò với tiếng loạt xoạt. Bên ngoài là tiếng thác nước đổ ào ạt, và một cơn gió thổi từ phương bắc gay gắt tạt mưa lên mái ngói.
Có thể vì tất cả những tiếng động này làm cho người thợ sắt không để ý đến việc một người đàn ông đã mở cửa cổng vào xưởng, cho tới khi ông ta đến đứng gần lò luyện. Chẳng có gì là bất thường việc những người lang thang không chỗ trọ qua đêm bị thu hút bởi ánh sáng trong xưởng thoát ra qua những ô cửa ám khói, vào để sưởi ấm trước lò lửa. Những người thợ chỉ thản nhiên liếc qua người mới vào. Ông ta trông cũng bình thường như những người lang thang khác, có bộ râu dài, dơ, quần áo tàn tạ và có nhiều cái bẫy chuột đeo tòn teng trước ngực.
Ông ta xin được ngủ lại, người thợ cả gật đầu vẻ cao ngạo không nói một lời.
Người lang thang cũng không nói gì. Ông không phải đến để nói mà chỉ để sưởi ấm và ngủ.
Vào thời đó xưởng kim loại Ramsjo do một nhà sản xuất đồ sắt nổi tiếng làm chủ và có tham vọng đưa sản phẩm sắt tốt của ông ra bán ở thị trường. Ông ta ngày đêm giám sát thợ để công việc được làm tốt hết sức, và ngay lúc này ông ta vào xưởng trong một tua giám sát ban đêm.
Lẽ tự nhiên là trước tiên ông thấy một người nhếch nhác dáng cao cao ở gần lò luyện hơi nước bốc lên từ bộ đồ tàn tạ ướt nước của ông ta. Người chủ xưởng không như những người thợ hầu như không thèm nhìn người lạ. Ông ta đến gần người lạ, cẩn thận nhìn dò xét, rồi gỡ chiếc mũ vành cong của người lạ xuống để nhìn rõ mặt hơn.
“Chính là anh rồi, Nils Olof!” ông ta nói. “Anh sao lại thế này!”
Người bán bẫy chuột trước đây chưa từng gặp chủ xưởng Ramsjo và thậm chí không biết tên ông ta. Nhưng chợt nghĩ rằng nếu ông chủ này nghĩ ông là người quen, thì có thể sẽ cho ông vài đồng kronor. Vì thế ông không muốn cải chính ngay.
“Vâng, chỉ Chúa mới biết những chuyện đã xảy ra cho tôi,” ông nói.
“Lẽ ra anh không nên rời bỏ trung đoàn,” người chủ xưởng nói. “Đó là một sai lầm. Nếu lúc đó tôi còn trong quân đội thì chuyện hẳn sẽ không xảy ra. Giờ thì, dĩ nhiên, anh sẽ về nhà tôi.”
Đi về nhà ông chủ xưởng và được nhìn nhận là một đồng đội cũ ở trung đoàn – lại không phải là chuyện người lang thang thích thú.
“Không, tôi không nghĩ đến việc đó!” ông ta nói, có vẻ khá cảnh giác.
Ông nghĩ đến ba mươi đồng kronor. Đi đến nhà chủ xưởng cũng giống như tự đưa mình vào hang sư tử. Ông chỉ muốn được ngủ ở đây trong xưởng này và rồi kín đáo ra đi.
Nhưng người chủ xưởng cho rằng ông ta e ngại vì quần áo tồi tàn. “Xin đừng nghĩ nhà tôi cao sang khiến anh cho rằng không thể ở đó,” ông nói. “Elizabeth chết rồi, như anh có thể đã biết. Các con trai tôi ở nước ngoài, không có ai ở nhà ngoại trừ con gái đầu của tôi và tôi. Chúng tôi sẽ nói rằng thật quá tệ khi không có ai chung vui mùa Giáng sinh. Hãy đi cùng tôi và giúp chúng tôi tiêu thụ thức ăn ngày Giáng sinh nhanh hơn một chút.”
Nhưng người lạ cứ nói không, không và không, người chủ xưởng đành chịu thua.
“Có vẻ như đại úy von Stahle thích ở với ông đêm nay, Stjern-strom à,” ông nói với người thợ cả, và lui bước.
Nhưng ông cười thầm trong khi bước đi, và người thợ sắt hiểu rõ tính ông biết rằng ông chưa nói lời cuối cùng.
Không đầy nửa giờ sau họ nghe được tiếng xe ngựa phía ngoài xưởng, và một người khách mới bước vào, nhưng lần này không phải là ông chủ xưởng. Ông đã bảo con gái ông đến, rõ ràng là ông hy vọng nàng sẽ có sức thuyết phục hơn chính ông.
Nàng vào, theo sau là một gia nhân, cầm trên tay một chiếc áo choàng lông lớn. Nàng không xinh đẹp, nhưng có vẻ khiêm tốn và khá e lệ. Trong xưởng thì mọi thứ đều như lúc đầu hôm. Người thợ cả và người thợ phụ vẫn ngồi trên băng ghế, sắt và than vẫn phát sáng trong lò nung. Người lạ đã nằm dài trên đất gối đầu bằng một khối kim loại, mũ kéo xuống che khuất mắt. Ngay khi cô gái nhìn thấy ông, nàng bước tới nâng mũ ông lên. Người đàn ông hiển nhiên đã quen ngủ với sự cảnh giác. Ông bật dậy có vẻ khá hoảng hốt.
“Tên tôi là Edla Willmansson,” cô gái trẻ nói. “Cha tôi về nhà và bảo rằng ông muốn ngủ ở đây trong xưởng đêm nay, và tôi được phép đến đây để đưa ông về nhà chúng tôi. Tôi rất tiếc, ông đại úy ạ, rằng ông đang gặp lúc khó khăn như thế.”
Nàng nhìn ông với vẻ trắc ẩn, với đôi mắt buồn buồn, và rồi nàng thấy người đàn ông có vẻ sợ. “Có thể là ông ta đã ăn cắp một thứ gì hay là vừa trốn tù,” nàng nghĩ, và nhanh nhảu nói thêm, “ông có thể tin tưởng, đại úy ạ, rằng ông có thể rời khỏi nhà chúng tôi cũng thoải mái như khi ông đến. Chỉ xin ở với chúng tôi qua đêm lễ Giáng sinh này thôi.” Nàng nói vậy với vẻ thân thiện đến mức người bán bẫy chuột tin tưởng nơi nàng.
“Tôi không nghĩ là cô lại quan tâm đến tôi như thế, thưa cô,” ông nói. “Tôi sẽ đến ngay.”
Ông nhận chiếc áo choàng lông mà người gia nhân cúi thấp người đưa cho ông, khoác nó bên ngoài bộ đồ tàn tạ của ông, và theo cô gái trẻ ra xe, không bận tâm nhìn những người thợ sắt.
Nhưng trong khi ngồi xe đến nhà của người chủ xưởng ông chợt có những linh tính xấu. “Sao mình lại dại dột lấy tiền của ông già đó?” ông nghĩ. “Bây giờ thì mình đang kẹt trong bẫy và sẽ không bao giờ ra khỏi được.”
Ngày hôm sau là Giáng sinh, và khi người chủ xưởng luyện kim đến phòng ăn để điểm tâm ông nghĩ về người đồng đội cũ mà ông đã gặp gỡ bất ngờ.
“Trước hết ta phải thấy rằng ông ấy gầy ốm,” ông nói với cô con gái đang sắp xếp bàn ăn. “Ta cũng phải thấy ông ấy có làm gì đó chứ không chỉ đi lang thang khắp miền để bán bẫy chuột.”
“ Điều lạ là sao ông ấy lại gặp những chuyện tệ hại.” cô gái nói. “Tối hôm qua con không thấy gì chứng tỏ ông ấy là người học thức.”
“Con phải kiên nhẫn, con gái à,” người cha nói. “Sau khi ông ấy tắm gội và ăn mặc đàng hoàng, con sẽ thấy khác. Tối hôm qua ông ấy lúng túng là lẽ tự nhiên. Cách ứng xử của người lang thang sẽ rời bỏ ông ta cùng trang phục của người lang thang.”
Vừa khi người chủ nhà nói xong thì cửa mở và người lạ bước vào. Bây giờ ông ta đã thực sự sạch sẽ và ăn mặc đàng hoàng. Người gia nhân đã dọn nước cho ông ta tắm, cắt tóc cạo râu cho ông. Hơn nữa, ông ta đã mặc một bộ quần áo còn tốt của chính ông chủ xưởng. Ông mặc chiếc sơ mi trắng cổ áo hồ tinh bột và đi giày.
Nhưng dù người khách của ông bây giờ ăn mặc tươm tất, ông chủ xưởng kim loại lại có vẻ không hài lòng. Ông ta cau mày nhìn khách, điều dễ hiểu là tối hôm qua khi ông nhìn người lạ trong ánh sáng chập chùng của lò luyện kim ông đã nhầm lẫn, nhưng bây giờ, khi khách đứng đây trong ánh sáng ban ngày, thì không thể nào nhầm ông ta là một người bạn cũ được.
“Thế này là sao?” ông lớn tiếng.
Người lạ không muốn giấu giếm. Ông thấy rằng sự sung sướng đã đến lúc kết thúc.
“Không phải là lỗi của tôi thưa ông,” ông nói. “Tôi không hề giả danh ai mà chỉ là một người buôn bán nghèo, và tôi đã năn nỉ để được tạm trú trong xưởng. Dù sao thì cũng không có gì tai hại xảy ra. Nếu cần thì tôi lại mặc vào bộ đồ tàn tạ và ra đi ngay.”
“À,” người chủ xưởng nói sau một chút do dự, “nhưng như thế cũng không phải là hoàn toàn trung thực. Ông phải thừa nhận như thế, và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu ông cảnh sát trưởng muốn có ý kiến về vấn đề này.”
Người lang thang bước tới một bước và đấm nắm tay lên bàn. “Bây giờ tôi sẽ nói với ông, ông chủ xưởng à, sự việc là thế nào,” ông ta nói. “Toàn thế giới này chẳng là gì cả ngoài một cái bẫy chuột lớn. Tất cả những gì tốt đẹp mà ông mời chẳng là gì ngoài những lát phó mát và những miếng thịt, được bày ra để lôi một người nghèo khổ vào chuyện rắc rối. Nếu ông cảnh sát trưởng đến đây ngay bây giờ và bắt tôi vì những điều này, thì ông, ông chủ xưởng ạ, phải nhớ rằng một ngày nào đó khi ông muốn có một miếng thịt lớn hơn, thì lúc ấy ông sẽ bị dính vào bẫy.”
Người chủ xưởng cười. “Đừng nói tệ như vậy. Có lẽ ta nên để ông cảnh sát trưởng yên vào ngày Giáng sinh. Nhưng bây giờ thì ra khỏi nhà tôi càng nhanh càng tốt.”
Cô con gái vẫn đứng đó khá lúng túng không biết nói gì.
Sáng hôm đó cô cảm thấy khá vui khi nghĩ cô sẽ làm nhiều thứ mang không khí gia đình và Giáng sinh cho người bất hạnh nghèo đói này. Cô không thể bỏ ý tưởng đó ngay được, và đó là lý do cô đã lên tiếng giùm cho người lang thang. “Con nghĩ rằng,” cô gái trẻ nói. “Người khách lạ này đã đi và đi suốt cả năm dài, và có lẽ không một nơi nào trong toàn vùng này ông được đón mừng và có thể cảm thấy như ở nhà. Bất cứ nơi nào ông ta đến ông đều bị xua đuổi. Luôn luôn ông ta sợ bị bắt và bị thẩm vấn. Con muốn cho ông ta hưởng một ngày bình yên ở đây với chúng ta – chỉ một ngày trong cả một năm.”
Người chủ xưởng lầm bầm câu gì đó. Ông không thể phản đối cô con gái. “Dĩ nhiên đó là một nhầm lẫn,” cô gái tiếp tục. “Nhưng dù sao con không nghĩ là phải xua đuổi một người mà ta đã mời đến đây và đã hứa là cùng vui Giáng sinh.”
“Con thuyết giáo tệ hơn vị linh mục,” ông chủ xưởng nói. “ Ba chỉ mong rằng con sẽ không ân hận về việc này.”
Cô gái cầm tay người lạ đưa lại bàn ăn. “Mời ngồi xuống và ăn,” nàng nói, vì nàng có thể thấy rằng cha nàng đã nhượng bộ.
Người đàn ông bán bẫy chuột không nói một lời; ông ta chỉ ngồi xuống và tự mình lấy thức ăn. Thỉnh thoảng ông nhìn cô gái trẻ đã can thiệp giúp ông. Tại sao cô ta lại làm vậy? Ý tưởng lạ lùng này có thể là gì?
Sau đó, đêm Giáng sinh ở Ramsjo trôi qua như thường lệ. Người lạ không gây rắc rối gì vì ông ta chẳng làm gì mà chỉ ngủ. Suốt cả buổi sáng ông nằm trên ghế xô pha trong một trong những phòng dành cho khách và ngủ thẳng giấc. Đến trưa thì họ đánh thức ông để ông tham dự bữa ăn ngon ngày Giáng sinh, nhưng sau đó ông lại ngủ.
Cứ như thể đã nhiều năm ông không được ngủ yên tĩnh và an toàn như ở đây tại Ramsjo này.
Vào buổi tối, khi cây Giáng sinh được thắp sáng, họ lại đánh thức ông, ông đứng một lúc trong phòng khách, hấp háy mắt như thể ánh nến làm ông chói, nhưng sau đó ông lại biến mất. Hai giờ sau ông được đánh thức một lần nữa. Ông phải đi xuống phòng ăn, ăn cá và thịt mừng Giáng sinh.
Ngay khi họ từ bàn ăn đứng dậy ông đến chúc từng người, nói cám ơn và chúc ngủ ngon, nhưng khi ông đến chỗ cô gái, cô nói với ông rằng ý định của cha cô là bộ đồ ông đang mặc là một món quà Giáng sinh – ông không phải trả lại nó; và nếu ông muốn trải qua đêm Giáng sinh năm tới ở một nơi ông có thể nghỉ ngơi yên bình, và chắc chắn không có điều xấu nào xảy ra cho ông, thì ông sẽ được đón mừng khi trở lại nơi này.
Người bán bẫy chuột không nói gì khi nghe những lời này. Ông chỉ nhìn cô gái trẻ với vẻ ngạc nhiên vô hạn.
Sáng hôm sau ông chủ xưởng và cô con gái dậy sớm để đi xem lễ Giáng sinh sớm. Người khách của họ vẫn còn ngủ, và họ không khuấy rối ông ta. Vào khoảng mười giờ, họ từ nhà thờ về, cô gái thậm chí có vẻ chán nản hơn trước. Ở nhà thờ cô đã nghe rằng một trong những người thợ cũ của xưởng luyện kim đã bị một người bán dạo bẫy chuột lấy cắp tiền. “Phải, đó chính là người con đã cho vào nhà,” cha cô nói. “Ba chỉ thắc mắc là lần này còn bao nhiêu cái muỗng bạc được để lại trong tủ.”
Chiếc xe ngựa vừa dừng trước những bậc tam cấp nhà ông chủ xưởng hỏi ngay người gia nhân là người lạ có còn ở trong nhà không. Ông nói thêm rằng ông đã nghe ở nhà thờ đó là một tên trộm. Người gia nhân trả lời người lạ đã đi rồi và không lấy theo gì cả. Ngược lại, ông ta để lại một gói nhỏ làm quà Giáng sinh cho cô Willmansson tử tế.
Cô gái hấp tấp mở cái gói nhỏ để có thể xem ngay những gì bên trong. Cô phát ra một tiếng kêu nhỏ vui mừng. Cô thấy đó là một cái bẫy chuột nhỏ, và trong bẫy chuột là ba tờ bạc mệnh giá mười kronor. Nhưng không chỉ có thế. Trong bẫy chuột còn có một lá thư viết chữ cỡ lớn, không đều.
Kính thưa ông và Cô:
Vì ông và cô đối xử với tôi quá tử tế, cứ như thể tôi là một đại úy, nên tôi cũng muốn tử tế với ông và cô, như thể tôi là một đại úy thật sự: tôi không muốn ông và cô xấu hổ vào mùa Giáng sinh vì một tên trộm; ông và cô có thể gửi lại số tiền cho ông già nhà bên vệ đường, người đã có túi tiền treo trên cửa sổ như một miếng mồi cám dỗ những người lang thang nghèo khổ.
Cái bẫy chuột là món quà Giáng sinh từ một con chuột lẽ ra đã bị bắt giữ trong cái bẫy chuột của thế giới này nếu nó đã không được nâng lên thành đại úy, vì nhờ vậy nó đã có được sức mạnh để tự rửa sạch mình.
Trân trọng kính thư.
Đại úy von Stahle.


Võ Hoàng Minh dịch
(Từ “The Rat trap”)
______
(1) krona: đồng krona, (số nhiều là kronor), đơn vị tiền tệ của Thụy điển.

Nhà văn Selma Lagerlof
Ảnh của En.Wikipedia.org/Internet

Quay lại In bản tin n�y Gửi tin n�y cho bạn b�  
 
 
 C�C TIN TỨC KH�C
Thu về trên lá (02/10)
Trung thu Hà Nội trong ký ức tuổi thơ tôi (19/09)
Trầu không thức giấc (14/09)
Bâng khuâng ký ức mùa tựu trường (05/09)
Miền nhớ cũ (02/09)
Từ hạ vào thu (26/08)
Tuổi thơ tôi, Phan Thiết (21/08)
Mẹ ơi, thương mẹ quá chừng !... (17/08)
Chạm vào La Gi (14/08)
Thương quá áo bà ba (10/08)
Đã sang mùa thu (08/08)
... chút ráng đỏ buổi chiều... (31/07)
Sóng ký ức (23/07)
Rì rào bờ xe nước (10/07)
Tháng 7 về rồi ! (05/07)

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem