Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
MỘT PHONG CÁCH RẤT RIÊNG CỦA THƠ PHƯƠNG TẤN  

Hầu như phận số đã không cho nàng một chọn lựa khác hơn. Cái hay ở đây là tại sao tác giả lại tự mình hóa thân thành người nữ để viết về cuộc đời của một người con gái đáng thương này. Những bài thơ cứ tiếp tục đan xen diễn tả về một người con gái vật vã đi tìm cuộc sống cho chính mình mà vẫn mãi hoài chưa tới đích. Và, khi đọc kỹ những dòng tựa của tác giả tôi đã hiểu vì sao Phương Tấn đã hóa thân một Thái Thị Yến Phương để ai oán trong "Di bút của người một con gái". Xin nghe Phương Tấn thổ lộ một đoạn trong bài viết của anh: “…Trước thực trạng các ổ điếm, phụ nữ làm điếm và đàn ông Việt Nam và nước ngoài “chơi điếm” tràn lan – tôi đã viết một phóng sự nhiều kỳ đăng trên nhật báo Dân Chủ của nhà báo Nguyễn Thạch Kiên, đồng thời xâu chuỗi những mảnh đời bất hạnh cùng cực trong tình yêu, trong đời sống của chị em làm điếm, viết nên một số bài thơ trong tâm trạng khổ đau của họ dưới bút hiệu Thái Thị Yến Phương…” Và một đoạn khác: “…Nhiều ngày tôi đã tự hỏi “Thái Thị Yến Phương là ai” mà thấm đẫm cả tâm hồn lẫn thể xác của tôi. “Thái Thị Yến Phương là ai” mà tôi thương yêu đến thế. Tôi vẫn thường đọc lại những bài thơ ký tên Thái Thị Yến Phương. Khi đọc lại, tôi không hề nghĩ những bài thơ ấy là của tôi mà của Thái Thị Yến Phương. Một cô gái “làm điếm” tài hoa và bạc phận mà tôi thương yêu. Trong cơn mơ của tuổi mới lớn, tôi mơ một ngày trong đời, tôi sẽ tổ chức “Ngày hội của Chị và Em” và xây nên những căn nhà mới, lập nên cuộc sống mới dành cho “Chị và Em” và chỉ có những phụ nữ ấy mới “xứng đáng” vào những căn nhà ấy của tôi…”(DUNG THỊ VÂN) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 29/6/2017
Xem chi tiết bản tin

Những cuộc trở về của thơ Việt hải ngoại

Những cuộc trở về của thơ Việt hải ngoại

* Nhà thơ THANH THẢO

Nhân kỷ niệm 42 năm ngày Thống nhất đất nước, trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của nhà thơ Thanh Thảo về một dòng thơ Việt được mệnh danh là 'hải ngoại'.

1

" Nỗi sợ " của Du Tử Lê


Dù không đủ thời gian và điều kiện để đọc hết thơ của những nhà thơ Việt định cư ở nước ngoài, nhưng với những gì mình đã đọc, tôi có thể nói rằng hầu hết thơ của những nhà thơ xa quê hương đều đáng quý, đáng trân trọng. Đó là thơ của những thân phận người Việt, là thế giới nội tâm của người Việt luôn cảm thấy trong vô thức nỗi cô đơn của con người khi bị bật gốc, khi phải tha hương, thậm chí lưu vong. Đó là thơ của nỗi hoài nhớ, của những day dứt, những buồn vui đau khổ không thoát ngoài cái “danh tính” người Việt. Khi được hòa nhập vào thơ Việt hiện đại, thơ những người Việt định cư ở nước ngoài sẽ làm phong phú, làm giàu có thêm cho thơ Việt.
Còn nhớ có lần, nhà thơ Du Tử Lê - một nhà thơ Sài Gòn cũ từng có thời khoác áo lính Cộng hòa, nay định cư ở Mỹ - về Quảng Ngãi làm đám cưới cho con trai, đã đến thăm tôi. Dù chưa gặp nhau lần nào, trong chiến tranh lại từng ở hai chiến tuyến đối địch, nhưng chúng tôi đã hồ hởi chuyện trò với nhau như những người bạn. Khi tôi hỏi vì sao lâu nay anh không về thăm quê, anh Du Tử Lê thú nhận là anh... sợ. Sợ và ngại, chẳng biết những anh em văn nghệ, những nhà thơ đồng nghiệp trong nước sẽ đối xử với mình thế nào?
Sau cuộc chuyện trò và mời tôi tham dự đám cưới con trai lấy vợ Quảng Ngãi, anh Lê nói: “Nếu tôi biết gặp các anh mà vui và cởi mở thế này, tôi đã xin về thăm quê từ lâu. Nếu một lúc nào đó trong tương lai tôi xin về định cư tại... Quảng Ngãi, anh nghĩ sao?”. Còn nghĩ sao nữa, dĩ nhiên là một nhà thơ, tôi rất vui vì quyết định ấy của anh.
Nhà thơ Du Tử Lê cũng vui mừng báo tôi biết là NXB Văn nghệ TP.HCM đã đồng ý in lại một tập Thơ tình Du Tử Lê gồm những bài thơ tình yêu thời chiến tranh của anh. Tôi nói với Du Tử Lê là nếu anh in lại tại Việt Nam trường ca Mẹ về Biển Đông của anh, tôi tin tác phẩm này sẽ có tiếng vang. Theo tôi, đó là một trong những trường ca hiện đại viết bằng Việt ngữ hay nhất trong 30 năm qua. Năm 2003, khi có dịp ghé Paris, tôi đã được đọc trường ca này ở nhà một người bạn và tôi đã khóc.
Dù đi đâu về đâu thì người Việt vẫn là người Việt thôi. Và mẹ ta thì muôn đời vẫn là mẹ ta thôi! Tôi nghĩ, Hội Nhà văn nên có hẳn một kế hoạch dài hơi để tạm gọi là “Đưa thơ người Việt ở nước ngoài về quê hương”. Dĩ nhiên, đây chẳng dính dáng gì tới cái gọi là “Chuyển lửa về quê nhà” cả. Các nhà xuất bản cũng nên rộng rãi hơn trong chuyện cấp phép cho tác giả người Việt định cư ở nước ngoài có thể in thơ mình ở trong nước. Thơ, thật là thơ, bao giờ cũng mang tính nhân văn sâu sắc, vì nó là tiếng nói trực tiếp của tâm hồn con người. Nó phải tuyệt đối chân thành nếu muốn được đón nhận, nếu muốn tồn tại. Không có gì phải sợ thơ cả, nếu thực sự là những con người bình thường, những người đọc bình thường. Và đã là thơ thứ thiệt thì dù được sáng tác ở đâu, trong hoàn cảnh nào, cũng sẽ được đón nhận được đồng cảm nếu nó thực sự gây được một “từ trường đồng cảm”. Những nhà thơ, nhất là nhà thơ người Việt với nhau, cũng rất cần được giao lưu, được đọc nhau nhiều hơn nữa trong một thế giới hiện đại mà không phải bao giờ và ở đâu thơ cũng được quan tâm đúng như nó đáng được như thế.
Mấy năm gần đây, tôi có cơ hội đọc nhiều hơn những nhà thơ Việt ở hải ngoại. Với những bài thơ hay (dĩ nhiên theo cảm nhận của tôi) thì tôi đều đồng cảm. Khi đọc thơ người khác, tôi cũng chỉ là người đọc bình thường, và nếu thơ ấy hay (theo tôi) thì tôi nói là thơ ấy hay. Thế thôi. Và tôi nghĩ, đó cũng là cách đọc thơ trên toàn thế giới, không có bất cứ sự khác biệt nào.
Cách đây mấy năm, tôi có in bài thơ Một người lính nói về thế hệ mình trong một tuyển tập thơ Việt được dịch ra tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ. Qua phản hồi, tôi biết nhiều người Mỹ, trong đó có những cựu binh Mỹ, rất thích bài thơ này. Đó là bài thơ viết trong chiến tranh, viết bởi một “Việt Cộng” là tôi, ở một chiến tuyến đối địch, nhưng khi thơ ấy chân thành, trong trẻo, nhân bản, nó vẫn được đón nhận bởi những người đọc ở quốc gia khác, thậm chí là ở những người vốn ở trong đội quân thù địch, gọi trắng phớ ra là đội quân xâm lược.
Khi những nhân vật chính trị hàng đầu ở “phía bên kia” thuở nào như ông Nguyễn Cao Kỳ (bây giờ ông Kỳ đã thành người thiên cổ) vẫn vui vẻ về nước và được đón tiếp rất ân cần trọng thị, thường xuyên xuất hiện trên VTV ở những chương trình Nhớ lại 30 năm chiến tranh Việt Nam, lại còn tham gia vào những dự án liên doanh kinh tế và du lịch hoành tráng, thì không vì lẽ gì mà những nhà thơ người Việt, những người đã ra đi trong những thời điểm khác nhau và nói chung cũng chẳng có tội tình gì, lại không được “trở về” cùng với thơ của mình?


2

"Khắc khoải lòng" thơ Tô Thùy Yên

Tôi là người đọc rất yêu mến thơ Tô Thùy Yên, yêu mến cả nhân cách của nhà thơ này thể hiện qua thơ anh.
Tô Thùy Yên từng là sĩ quan trong quân đội Sài Gòn, từng bị đi cải tạo nhiều năm sau 1975. Nhưng đọc thơ anh, chỉ thấy đau đớn, chỉ thấy xót xa và chỉ thấy một tâm hồn Việt không bao giờ muốn tách rời khỏi đất Mẹ của mình.
Cách đây chừng 25 năm, cũng vào độ cuối xuân, tôi có viết một bài thơ theo dạng cũ. Tôi vốn ít khi viết dạng thơ này, nhưng khi nhìn bông hoa hồng trồng trong chậu trên gác nhà mình, tự nhiên những câu thơ có vần chợt đến:

“Cuối xuân cây lá rung dìu dịu
Mình anh đối diện với hoa hồng
Con đường chợt khuất mưa rào níu
Vệt bánh xe buồn tới nẻo không
Bao người đã sống bao người sống
Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng”
(Không đề)

25 năm sau, tôi muốn mượn lại câu thơ mình để viết về thơ của nhà thơ Việt hải ngoại Tô Thùy Yên: “Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng”.
Đúng là ở đời, dù ta muốn cách mấy, thì buồn vẫn nhiều hơn vui. “Cha mẹ sinh con trời sinh tính” nhưng tính buồn vẫn nhiều hơn tính vui. Chỉ có điều khi ta buồn, có lẽ chất người của ta lại nhiều hơn khi ta vui. Tôi chợt nhớ bài thơ Uống rượu với bạn đồng hương - một bài thơ thật cảm động của nhà thơ Yến Lan - nhớ nhất đoạn thơ này:

“Rồi năm tháng cách xa
Thành công chen thất bại
Có nỗi buồn khỏe ra
Có niềm vui chạnh mãi”


Nếu có niềm vui, khi nghĩ lại, khiến ta chạnh lòng, thì nhiều phen một nỗi buồn thanh sạch lại khiến lòng ta như “khỏe ra”. Cái khỏe ra của tâm hồn, không phải dễ để nhận thấy, nhưng nó hoàn toàn có thật.
Tôi nghe danh Tô Thùy Yên đã lâu, nhưng đọc thơ anh chậm hơn. Cũng một dịp may, khi tôi sang Paris dự Liên hoan Thơ quốc tế năm 2003, một tập thơ của Tô Thùy Yên đã đến với tôi tại quán Foyer Viet Nam của người bạn chủ quán - nhà thơ Võ Văn Thận.

“Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi”
(Ta về)

Những niềm vui nho nhỏ, “vui lẻ loi” ấy nhiều khi lại sống trong ta, giúp ta năng lượng sống nhiều hơn những “trận cười thâu đêm” mà chẳng biết có vui thật không. Bài thơ Ta về được Tô Thùy Yên viết sau hơn mười năm phải sống trong một trại cải tạo hậu chiến tranh. Đó có thể là thời gian dài nhất trong đời anh, nhưng cũng là thời gian khiến thơ anh đằm xuống một sức nặng khó tả. Đó là điều có lẽ không nhà thơ nào muốn, nhưng khi số phận đã “gõ cửa” đời ta, thì sự nhẫn nại chịu đựng lại làm nên một nhân cách thơ trầm tĩnh. Tôi chợt nhớ đến Josef Brodski và những vần thơ trong khổ nạn của ông. Những vần thơ hết sức trầm tĩnh, hết sức nhẫn nại:

“anh lại nghe tiếng hát những người tù
và tiếng bước chân người cai tù câm lặng
anh lại tự hát, hát trong im lìm:
Thôi từ giã nhé, tháng giêng”
(Son-nê)

Năm 1961, tạp chí Sáng tạo (Sài Gòn) đã in bài thơ Lễ tấn phong tình yêu của Tô Thùy Yên. Năm ấy anh mới 23 tuổi, nhưng bài thơ dài đã xác lập trên thi đàn chiều kích của một nhà thơ lớn sắp sửa. 34 năm sau, vào 1995, tập Thơ tuyển của Tô Thùy Yên ra đời, khẳng định thi tâm và thi tài của nhà thơ Việt này. Nguyễn Du viết “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, nhưng tôi nghĩ, trong thơ, thì tâm và tài là 50-50. Phải có đủ cả 100% đó nhà thơ mới yên lòng, và thơ họ mới tự khẳng định. Xuất từ tâm, nhưng qua tài, thơ Tô Thùy Yên như muốn nói, nói mãi, nói hết nỗi lòng mình. Khi một bài thơ dài kết thúc, ta vẫn còn muốn đọc nữa, đọc nữa, và hình như còn gì nữa mà nhà thơ muốn nói tiếp.
Thơ Tô Thùy Yên lặng lẽ. Dù anh viết dài hay viết ngắn, thì thơ ấy vẫn lặng lẽ. Người đọc đồng cảm với thơ ấy, cũng trong lặng lẽ. Đó là thơ của Chim kêu bãi quạnh, hắt hiu và đau đớn:

“Cởi đôi giày vẹt, tấm áo tả
Xót xa như lột một lần da
” (Chim kêu bãi quạnh)

Thơ ấy nhiều khi như bâng quơ, mà găm vào ta thật sâu:

“Mai có ai về ngang quãng sông này,
Xin ném cho hòn đất hỏi thăm”
(Viễn Tây)

Khi người ta đã thấu lẽ tử sinh, đã thấu suốt phận người, thì:

“Nhớ, như cỏ, xô tràn…
Mơ, như mây, tản mạn…”
(Đại Bình Nguyên)

Một nhà thơ như thế, có thể gọi là đạt đạo. Thì là đạo làm người, vậy thôi:

“Ở những mối đường tẽ ba tẽ bảy phân vân
Muốn xuống xe, làm như kẻ lang thang xưa,
Tung cao may rủi một đồng tiền hay một cành cây,
Nhờ tình cờ định hướng hộ”
(Đại Bình Nguyên)

Không ai muốn rơi vào tâm trạng ấy để có thơ hay, nhưng khi đã lâm vào, thì chính những giọt thơ buồn như rượu mạnh sẽ giải thoát mình khỏi mọi trầm cảm. Tôi đọc bài thơ Đại Bình Nguyên của Tô Thùy Yên và chợt thoát ra với đúng cảm giác này của tác giả khi kết thúc bài thơ:

“Nước Mỹ này quá rộng và quá buồn
Anh không còn muốn tự định liệu”

Bởi tâm trạng của nhà thơ Việt nhập cư hôm nay không giống với tâm trạng của những người thuở xưa đi khai phá nước Mỹ, những chàng trai miền Viễn Tây cưỡi ngựa ngang tàng trên đồng cỏ. Rồi ngay trong lúc đó, chợt hiện về hình ảnh một kinh thành xa lắc:

“Nắng mưa đâu chẳng là mưa nắng
Sao nắng mưa này da diết hơn?”

Tô Thùy Yên sinh ở Nam bộ, hai câu thơ ấy lại viết về Huế, và tôi hiểu, với một nhà thơ Việt xa xứ, thì đất Việt đâu cũng quê nhà, đâu cũng đầy những nhớ thương day dứt. Nhà thơ Nam bộ ấy vừa nhớ Huế, thì bỗng nhớ ngay đến vùng sông nước quê mình:

“Mùa nước nổi qua mùa nước giựt,
Đốt tay nào Thân Dậu niên lai?
Em về giồng dưới, qua bưng gió,
Dạ bời bời nỗi sậy, niềm mây…”
(Nhớ có lần, trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)

Người ta nói thơ Tô Thùy Yên vừa dân tộc vừa hiện đại, rồi có thể phân tích thi pháp thơ anh thế này thế khác. Tôi chỉ nói đơn giản: Thơ ấy hay. Khi thơ đã hay thì có thể nó gồm cả những gì người ta đã nói, hoặc nó chỉ là… thơ hay. Vậy thôi. Sao biết là thơ hay? Khi thơ ấy đi vào lòng người, thấm sâu vào tâm cảm ta, làm ta mỗi một buồn buồn nào cũng có thể nhớ vài câu thơ ấy, thế thì nó hay rồi. Và tôi muốn nói thêm: Tô Thùy Yên có thể rất giỏi tiếng Anh, nhưng anh chỉ có thể làm thơ bằng tiếng Việt. Điều này cũng không cần phân tích. Tôi chỉ cảm về thơ Tô Thùy Yên khi “Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng”. Đó có thể là tiếng kêu buồn buồn xa vọng của con bìm bịp trên miền sông nước Cửu Long. Chỉ thế thôi.

THANH THẢO

Hình trên : Nhà thơ Du Tử Lê (phải) và VĂN CÔNG HÙNG

Quay lại In bản tin n�y Gửi tin n�y cho bạn b�  
 
 
 C�C TIN TỨC KH�C
Thử định vị Tự lực văn đoàn (28/06)
NGẪM MÀ HỔ THẸN VỚI "CHÂN DUNG 99 NHÀ VĂN ĐƯƠNG ĐẠI" của NGUYỄN KHÔI (07/06)
“MEN ĐẮNG” của ĐẶNG XUÂN XUYẾN " bóng tà lẩn khuất phía song thưa" (03/06)
" TA XA HÀ NỘI " Nỗi buồn của NGUYỄN KHÔI (30/05)
TRƯƠNG XUÂN HUY "Gửi thương nhớ về sông " (21/05)
Thi nhân trong thơ Trần Quang Khải (13/05)
Phạm Quốc Ca " “Thơ và mấy vấn đề văn học" (07/05)
HOÀNG YÊN LYNH THẤM ĐẨM CHỮ TÌNH (27/04)
CÕI TỊCH LẶNG TRONG “IM LẶNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG (21/04)
ĐỌC THƠ TRẦN NHÂN TÔNG (17/04)
“TIM ĐAU” - Nỗi lòng của ĐẶNG XUÂN XUYẾN (15/04)
MỘT PHONG CÁCH TÌNH KHÁC LẠ (11/04)
Giọt máu chung tình, rất nên đọc (06/04)
Sắc xuân trong tình ca Trịnh Công Sơn (01/04)
HÀ NỘI QUÊ TÔI của LÊ MAI (29/03)

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem