Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
NGUYỄN NGỌC TRẠCH với "ĐÊM TỰ TÌNH"  

Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng có một miền quê, một vùng đất để nhớ, để thương. Nơi ấy có dòng sông, con đò, bờ biển dài mênh mang cát trắng… Ở đấy có những con người mà ta đã từng gắn bó, gần gũi, yêu thương, neo lại trong đời bao kỉ niệm êm đềm, dẫu năm tháng đã qua vẫn không bao giờ phai mờ trong ký ức. Đọc tập thơ “Đêm tự tình” của tác giả Nguyễn Ngọc Trạch tôi thật sự đồng cảm với anh, trong từng trang sách thấm đẫm những giai điệu - cảm xúc dạt dào sâu lắng, chân thành, nồng ấm mà anh giành cho bạn bè, quê hương, với người mà mình từng yêu mến. Thông điệp ấy đã nói lên lòng thiết tha sâu nặng trong tập thơ “Đêm tự tình”. (PHẠM VĂN HOANH) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 26/9/2018
Xem chi tiết bản tin

THƠ CHỮ HÁN CỦA VUA MINH MỆNH

THƠ CHỮ HÁN CỦA VUA MINH MỆNH


* Lê Ngọc Trác


Nguồn thơ, văn chữ Hán là một di sản quý báu của lịch sử văn học Việt Nam. Qua thời gian, ảnh hưởng thời tiết, việc bảo quản nguồn thơ chữ Hán, chữ Nôm có phần mai một nên đến hôm nay không được phổ biến rộng rãi. Công việc chuyển dịch từ chữ Hán, chữ Nôm ra chữ quốc ngữ nhìn chung có phần hạn chế. Những áng thơ văn của người xưa khi chuyển dịch có phần mất đi hồn cốt và hơi thở của tác phẩm và tác giả. Chính vì vậy, cho đến hôm nay, những kiệt tác văn chương được viết từ chữ Hán có phần phổ biến chưa được rộng rãi. Minh Mệnh là một hoàng đế làm thơ chữ Hán rất nhiều. Theo các nhà nghiên cứu văn học thời cận đại, số lượng thơ viết bằng chữ Hán của Minh Mệnh lên đến trên 3.500 bài. Sinh thời chính vua Minh Mệnh đã từng nhận định về thơ của mình: "Thơ trẫm làm không cần khéo léo, chỉ để nói lên chí của mình". Minh Mệnh làm nhiều thơ, đọc nhiều thơ của các tác gia đời trước, nhà vua rất thích thơ Lê Thánh Tông và là người cảm phục vua Lê Thánh Tông. Minh Mệnh đã từng nói: "Nước Việt ta là nước văn hiến, vua anh minh đời nào cũng có. Phép hay chứng tốt, sử sách còn ghi lại". Chính Minh Mệnh khi đọc thơ các hoàng đế Trung Quốc như Đường Thái Tông hay Càn Long, nhà vua chấp nhận thơ của các vua nhà Đường hơn, còn riêng thơ của Càn Long bị Minh Mệnh chê bai. Nhà vua từng nói với các cận thần: "Thơ Càn Long đời Thanh phần nhiều là gượng ép, bĩ lậu, không đáng nói đến, chỉ là một cái trò cười". Minh Mệnh đã từng viết: "Thơ văn ta làm không
phải muốn khéo như người thợ, chỉ có một suy nghĩ rằng lấy việc kính trời, yêu dân làm gốc". Đây có lẽ là quan điểm sáng tác thi ca của Minh Mệnh.
Đọc thơ của Minh Mệnh qua các bản dịch của nhà nghiên cứu Mai Khắc Tính và các nhà nghiên cứu biên dịch khác, hôm nay chúng ta nhận thấy vẻ đẹp trong thơ Minh Mệnh thẻ hien những tư tưởng thương yêu dân và đất nước. Trong bài viết nhỏ bé này, chúng tôi xin giới thiệu một số tác phẩm thơ chữ Hán của vua Minh Mệnh:
VỊ NÔNG NGÂM 為農吟 • Ngâm ngợi nhà nông
為農吟
前宵咸喜濟時霖,
繼此連連細細斟。
凜冽冬中之順厚,
畯巡田上恐寒侵。
衣溫念織存餘意,
食飽思農動我心。
稼穡艱難從古重,
無時不以舉為吟。

VỊ NÔNG NGÂM
Tiền tiêu hàm hỷ tế thời lâm,
Kế thử liên liên tế tế châm.
Lẫm liệt đông trung chi thuận hậu,
Tuấn tuần điền thượng khủng hàn xâm.
Y ôn niệm chức tồn dư ý,
Thực bão tư nông động ngã tâm.
Giá sắc gian nan tòng cổ trọng,
Vô thời bất dĩ cử vi ngâm.
Dịch nghĩa:
Đêm trước mọi người đều mừng trận mưa cứu mùa màng,
Tiếp đó hạt mưa nối nhau rơi rả rích.
Trong mùa đông lạnh lẽo mà mưa như thế thì biết là thời tiết thuận lợi,
Người nông dân lội bì bõm trên ruộng, sợ e bị nhiễm lạnh.
Mặc ấm phải nhớ đến người dệt vải, đó là điều còn mãi trong ý ta,
Ăn no phải nghĩ đến người làm ruộng, đó là điều làm cảm động đến lòng ta.
Nỗi gian nan trong chuyện cấy gặt, từ xưa vốn được coi trọng,
Không lúc nào ta không đem nỗi gian nan ấy cất lên thành khúc ngâm.
MẪN NÔNG
Tự cổ doanh sinh bị bách công
Gian nan giá sắc độc công nông.
Sơ phùng hạ thục hân phi tổn
Nhất chi thu thành hận thị không.
Quyến mẫu sảo cao ngu vũ sắc
Mạch thiên nhược thấp hoạn lưu hồng.
Hà năng đê tuế giai toàn nẫm
Niệm cập bồi hồi thiết ngã tâm.

Dịch nghĩa:
THƯƠNG XÓT NGHỀ NÔNG
Trong trăm nghề kiếm sống xưa nay
Chỉ một nghề nông là cày cấy vất vả
Lúc đầu Hạ tưởng lúa chín mừng vì chẳng hư
(Nhưng) đến mùa Thu lúc gặt thì chẳng được gì!
Ruộng cao lo thiếu mưa
Đồng thấp lại sợ nước lụt
Sao cho hàng năm đều được mùa hoàn toàn
Nghĩ đến (nghề nông) khiến lòng ta bồi hồi đau xót.
Dịch thơ:
THƯƠNG XÓT NGHỀ NÔNG
Trăm nghề kiếm sống tự xưa nay,
Vất vả gian lao việc cấy cày
Đầu Hạ tưởng đâu mùa lúa tốt,
Sang Thu rút cục lại thua cay.
Đồng cao khô hạn chờ mưa mãi,
Ruộng thấp nước tràn thế mới gay.
Mong mỏi hàng năm mùa vụ tốt,
Thương nhà nông canh cánh lòng này.

HỮU THÁI NGUYÊN
Thái Nguyên tích xứ phất đa điều
Kim diệc thâm mông đại hữu niên.
Mễ giá tỉ tiền vưu giản tiện
Hàm bô cổ phúc tụng nhân thiên.

Dịch nghĩa:
VỚI THÁI NGUYÊN
Thái Nguyên đất hẹp, ruộng chẳng
Giá lúa so với trước càng giảm bớt,
Ăn no vỗ bụng ca trời nhân hậu.

Dịch thơ:
Thái Nguyên đất ruộng ít
Nay nhờ trời ban ân.
Được mùa giá lúa giảm
Ăn no ca trời nhân.

HỮU HƯNG YÊN
Hưng Yên tiền tuế bị hà xâm
Khai quật so thông Vũ tích tầm.
Hạ lạo chướng năng vô phiếm dật
Đại điền hàm nẫm úy ngô tâm.

Dịch nghĩa:
VỚI HƯNG YÊN
Hưng Yên năm ngoái bị nước ngập
(Cho nên) lập lại công nghiệp đào thông sông của vua Vũ.
Mùa hạ nước lớn may không bị ngập tràn nước,
Ruộng đồng được mùa khiến lòng ta yên ổn.

Dịch thơ:
Năm ngoái Hưng Yên bị nước tràn,
Đào sông tiêu thủy bởi vì dân.
Vào Hè nước lớn không đâu ngập,
Mùa được, lòng ta mới thực an.

HỮU HÀ NỘI
Long Biên toàn hạt hi phong thu
Thấp địa thiên tai phản nhạ sầu
Tiểu mãn tuy do hà bạo trướng
Thương hiềm do vị tận nhân mưu

Dịch nghĩa:
VỚI HÀ NỘI
Toàn tỉnh Long Biên mừng vì thu hoạch dồi dào
Nhưng lại buồn vì có riêng những vùng chịu lụt lội
Tuy do nước sông dâng quá cao vào tiết tiểu mãn
Vẫn còn ngờ là mưu tính của người chưa hết sức.

Dịch thơ:
Long Biên thu hoạch được dồi dào
Lụt lội vài nơi buồn biết bao.
Tiểu mãn nước dâng lên quá mức,
Ngờ rằng trù tính quả chưa cao.

ĐÀI TRẤN HẢI
Trên đồi cát trắng xây tường tròn,
Cao sừng sững nguy nga dùng để trấn biển.
Bên trong bảo vệ sông Hương
làm vững chắc Kinh Kì,
Bên ngoài củng cố chu toàn
đến biển bột hải tỉnh Quảng Tây.
Phía Nam đến phía Bắc đi thuyền nhiều như nêm,
Vật quý khắp nơi theo mái chèo cùng lên thuyền.
Lo trước tính sau để lại lâu dài cho đời sau,
Nơi xứ nóng mãi mãi muôn đời được bình yên.
(Ngự chế thi sơ tập, quyển 2, tờ 22)

Nguyên bản bài thơ Vạn phương ninh mật in trong ngự chế thi sơ tập

VẠN PHƯƠNG NINH MẬT

Nhất nhân thụ mệnh trị thiên hạ,
Thiên hạ nguyên phi phụng nhất nhân.
Cán thực tiêu y cần tối chính,
Triêu can tịch dịch cẩn trì thân.
Tất kì vạn tính an canh tạc,
Thỉ nguyện thiên phương miễn khổ tân.
Cảm bất miễn tư ngôn cố hành,
Úy thiên phó tỉ mục lê dân.

Dịch nghĩa:
MUÔN PHƯƠNG YÊN ỔN

Một người nhận mệnh trời để trị thiên hạ,
Thiên hạ vốn chẳng phải đem ra để cung phụng cho một người.
Cơm muộn thức khuya lo việc nước,
Sớm triều kính cẩn giữ gìn thần.
Ắt vì mong mỏi muôn dân yên ổn cày cấy,
Thề nguyện nghìn phương tránh được đắng cay.
Chẳng dám không gắng suy nghĩ để cố làm.
Vui mừng mong trời phù hộ để nuôi muôn dân.

元旦試筆
暑往寒來歲復春
洪鈞一轉物華新
弘開壽宇昌家國
廣佈恩波沐兆民
訓迪官常圖內治
申明軍律靜邊塵
愈增昊眷心增悚
益殫孜孜自首辰


Phiên âm:
Nguyên đán(3) thí bút
Thử vãng hàn lai tuế phục xuân,
Hồng quân(4) nhất chuyển vật hoa tân.
Hoằng khai thọ vũ xương gia quốc,
Quảng bố ân ba mộc triệu dân.
Huấn địch quan thường đồ nội trị,
Thân minh quân luật tĩnh biên trần.
Dũ tăng hạo quyến tâm tăng tủng,
Ích đạn tư tư tự thủ thần.

Dịch nghĩa:
LÀM THƠ TẾT NGUYÊN ĐÁN
Nóng qua lạnh tới mùa xuân lại về
Trời chuyển mùa muôn vật hoa cỏ tươi mới
Mở rộng cơ đồ quốc gia thịnh trị
Ban ơn rộng khắp thấm nhuần muôn dân
Dạy dỗ quan lại thường mong trong nước được yên ổn
Quân luật sáng rõ biên thùy vô sự
Trời cao quan tâm giúp đỡ lòng càng thêm sợ
Tự mình hết lòng chăm chăm gắng sức từ những ngày đầu năm.
(Ngự chế thi lục tập, Quyển 6, tờ 2)


Lê Ngọc Trác

…….
Tham khảo và trích dẫn:
- Thơ văn chữ Hán của vua Minh Mệnh
(Mai Khắc Ứng - Nguyễn Huy Khuyến - Nguyễn Phước Hải Trung)

Quay lại In bản tin n�y Gửi tin n�y cho bạn b�  
 
 
 C�C TIN TỨC KH�C
MINH MỆNH VỚI NHỮNG CẢI CÁCH NỔI BẬT (14/09)
VUA GIA LONG CHỌN NGƯỜI KẾ NGHIỆP (28/08)
Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: 80 năm với đàn tranh (10/08)
Nguyễn Trường Tộ: “Một kiếp sa chân muôn kiếp hận” (31/07)
Hoàng Xuân Hãn: Nhà “Tây học” nặng hồn “dân tộc học” (21/07)
Người chăn trâu kiệt xuất nhất triều Nguyễn và bài học cho hậu thế (08/07)
GS Phan Huy Lê – người tổng kết lịch sử Việt Nam (24/06)
Bùi Kỷ - tấm lòng với quốc văn (18/06)
Cao Xuân Huy-Cao Xuân Hạo (08/06)
Đào Tấn: Ông vua của nghệ thuật tuồng (01/06)
VỊ THẾ NỔI BẬT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆT NAM (22/05)
Giáo sư Phan Đình Diệu là kẻ sĩ chân chính, cương trực (16/05)
TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ VỚI TƯ TƯỞNG VÀ SỨC MẠNH VĂN HIẾN VIỆT NAM (05/05)
TẠI SAO TRIỀU ĐẠI MINH MỆNH CÓ NHIỀU CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA NÔNG DÂN ?! (28/04)
VỊ THẾ NỔI BẬT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆT NAM (19/04)

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem