Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
CAO THOẠI CHÂU ,NHÀ THƠ ,NHÀ GIÁO VỚI THI PHẨM : BẢN THẢO MỘT ĐỜI  

Nhà thơ Cao Thoại Châu tên thật là Cao Ðình Vưu, sinh năm 1939 tại Giao Thủy, Nam Ðịnh, di cư vào Nam năm 1954. Ông tốt nghiệp Ðại học Sư phạm Sài Gòn năm 1962. Nhiệm sở đầu tiên của ông là Trường Trung học Thủ khoa Nghĩa ở tỉnh Châu Đốc. Sau năm 1968 ông bị động viên vào quân ngũ .Năm 1970 ông được biệt phái về Bộ Quốc gia Giáo dục và thuyên chuyển về Trường Nữ Trung học Pleime của tỉnh Pleiku. Cao Thoại Châu dạy học tại đây cho đến ngày 30.4.75.Sau 1975, ông vào trại cải tạo 3 năm và cũng như nhiều nhà giáo khác, Cao Thoại Châu phải nghỉ dạy trong một thời gian khá lâu. Trong thời gian này ông làm thợ hồ sau đấy mới được gọi đi dạy lại tại trường Trung học Phổ thông Long An. Trước năm 1975 Thơ Cao Thoại Châu xuất hiện thường xuyên trên các tạp chí văn học: Văn, Văn Học, Khởi Hành, Thời Tập… Sau 1975 ông nghỉ viết trong 15 năm. Từ 1990 thơ ông mới xuất hiện trở lại trên các báo Thanh Niên, Kiến Thức Ngày Nay, Long An Cuối Tuần… Tác phẩm đã xuất bản: • Bản thảo một đời (thơ, 1992) • Rạng đông một ngày vô định (thơ, 2006) • Ngựa hồng (thơ, 2009) • Vớt lá trên sông (tạp bút, 2010) • Vách đá cheo leo (tạp bút, 2012) ...(TRẦN DZẠ LỮ) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 20/10/2018
Xem chi tiết bản tin

Lục bát Trần Vạn Giã

Lục bát Trần Vạn Giã


* Nhà thơ VÕ CHÂN CỬU




Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay!”. Dân gian cũng như các sách khảo luận về văn học sử, cả trong cuốn “Việt Thi” của Trần Trọng Kim đều khái quát như vậy. Thế nhưng tới tận hôm nay, dòng chảy của thơ ca dẫu qua nhiều ghềnh thác tìm tòi, khai mở “cách tân” đưa thêm nhiều thể nghiệm mới, rất nhiều người vẫn muốn khẳng định vóc dáng mình qua thể thơ lục bát.
Tủ sách “Di sản Văn học Miền Nam” của NXB Thư ấn quán ở tận Hoa Kỳ, năm 2008 đã sưu tập những bài thơ lục bát nổi bật trong giai đoạn 1960-1975 ở một nửa nước Việt, in thành tập sách mang tựa đề “Một Thời Lục Bát Miền Nam”. Phải đến năm 2014, nhờ chuyến du lịch đến miền viễn tây nước Mỹ, tôi mới có được cuốn sách này, gặp lại chính mình và những bạn hữu văn nghệ cùng thời qua 600 trang giấy in. Trong những nhà thơ gốc ở Miền Trung có bài trong sách, tôi có 3 bài (2 trang in). Riêng Trần Vạn Giã chiếm đến 4 trang với 10 bài thơ! Bạn tôi, nhà thơ Nguyễn Thanh Châu, là người có nhiều công sưu tập hình thành nội dung sách (theo Lời Mở của NXB). Anh là người Nam bộ, vốn nghiêm túc trong thưởng ngoạn văn học, chưa hề quen biết với Trần Vạn Giã, nên chắc là không thiên vị.
Mốc xuất hiện các bài thơ trong “Một thời Lục Bát Miền Nam” là năm 1960. Ngoài lý do về tàng thư kiếm được, thời điểm này cũng ghi dấu ấn về sự chuyển mình của dòng chảy thơ ca Miền Nam. Sau mấy năm tung hoành, trường phái “thơ tự do” xuấn hiện từ Tạp chí văn nghệ Sáng Tạo gần như dần lắng lại. Cái tinh thần khai phá, đánh thức cảm xúc từ cái tôi hiện hữu nhiều với nhiều trói buộc mà các nhà thơ đưa ra từ “thơ tự do” đã tạo nên sự khơi mở. “Hình thức” của bài thơ xem ra không phải là cái quyết định như nhiều người lầm tưởng. Chính nhờ vậy, nên thơ Việt từ đó lại bắt đầu một giai đoạn phong phú mới. Và thể thơ lục bát, qua cơ hội này cũng đã chứng tỏ sự kỳ diệu của những âm điệu, ngôn ngữ mới.
Vào năm 1963, chàng trai Trần Vạn Giã, lúc này vừa tròn 18 tuổi, từ nghiệp văn chương, đã có những vần thơ diễn tả những khổ nhọc do “lang chạ” với vần điệu.

Đốt thơ

Một ngày đốt những bài thơ
Đun trong khói ngọn đèn mờ vô vi
Mê rừng chán đoạn cổ thi
Bỏ quê trôi dạt ta đi lên ngàn
Đời này có hợp có tan
Nên thơ ta cháy dịu dàng trong mơ
.

Hai câu cuối trong bài thơ 8 câu cho thấy sự nhận chân của tác giả về những giá trị cuộc đời. Chưa phải là tuyệt tác, nhưng đây là một bài thơ tuyệt vời trong thời kỳ ấy. Ở một bài tiếp đó, anh đã cảm ơn “mây bạc”, một loại vật chất mà nhiều người có thể cho là phù phiếm, nhưng người đang theo đuổi hồn thơ thì lại là những hình tượng…vô giá.

Cám ơn mây bạc

Tôi rơi vào cõi tuyệt cùng
Nghe từ thiên cổ về chung mối sầu
Hôm nay cho đến ngàn sau
Biết còn sóng vỗ bên cầu đưa trăng
Lạnh hồn lạnh cả chiếu chăn
Ngờ đâu mặt đất có thằng người tôi
Hôm nay vò gạo hết rồi
Dế đùn bếp đất cái nồi chèo queo
Cám ơn mây bạc đang theo
Dìu tôi lơ lửng cuối đèo nhân sinh.


“Thấu thị” cõi nhân sinh

Xin người đọc lưu ý: vào thời điểm sau biến động 1963 ở Miền Nam, cuộc chiến ngày càng lan rộng, một số trí thức, giáo sư đại học từ phương Tây trở về đã ra sức truyền bá chủ nghĩa “Hiện sinh”, khiến tâm trí của người dân, nhất là tầng lớp thanh niên có học ngày càng bị nhiễu loạn. Những từ ngữ Hán Việt mang tính triết học như “dấn thân”, “thân phận” đang trở nên thời thượng trong ngôn ngữ văn chương. Vậy mà câu thơ Trần Vạn Giả lại khá “nôm na”. Những từ ngữ dân giã, như “vo gạo”, “chèo queo”…được anh dùng đúng chỗ, nên bài thơ vẫn có được sức sống riêng.
Tâm trạng của một thanh niên bị thời cuộc xua đuổi, phải lên rừng nương náu vào một tịnh cốc, lại là nguồn cơ duyên để anh hình thành nhân cách, thành một nhà thơ biết nhìn “thấu thị” bản ngã con người và kiếp nhân sinh. Anh kể chuyện:

Một hôm trở lại Nguyệt Đài
Mây thưa lớp lớp có ai gọi đò


Bài thơ “Còn đâu bờ sương Tây phủ” mở đầu với hình tượng bến nước-con đò, tựa như khung cảnh thời Đường Thi cực thịnh. Nhưng nhờ câu chữ, ở đây nó lại rất Việt Nam. Tác giả miêu tả tiếp theo:

Bên bờ sương cỏ quanh co
Hắt hiu bước chậm tiếng cò điểm trăng


Anh đã sực tỉnh khi nghe tiếng chim cò quen thuộc của miền quê.

Để rồi:

Giật mình hút ngọn sao băng
Tắt ngang núi Vỵ tưởng rằng hoàng hôn
.

6 câu lục bát đó như một bài thơ Đường biến thể. Khung cảnh không mới, tứ thơ không mới, nhưng người đọc thấy rõ nhà thơ này đã chắt lọc được những tinh tế của người xưa, biến nó thành của mình. Cái “vốn học” của nhà thơ là đã hàm chứa trong đó.

Giữ hồn “Lục Bát”


Những bài thơ đầu đời được anh viết theo thể lục bát được anh gom thành một tập mang tên “Hồn Chữ”. Nó được nằm trong ngăn kéo khá lâu, hình như đến khoảng sau năm 1970 mới rải rác được đăng tải. Lúc này, cái tên Trần Vạn Giả lại nổi bật như một nhà thơ của nhóm “Nhân Sinh” hay “Trình Bày”, theo xu hướng “đi trong rừng biểu ngữ”, như anh nhớ lại trong “Lời ngỏ” in ở đầu tập. Mặc dù ít được đề cập đến, nhưng “Hồn chữ” đã không mất đi. Xin trích thêm một bài lục bát hay trong tập:

Bài thương ca muộn - làm trên rừng
mùa ẩn tịch


Đứng trên mặt đất bao la
Một mình ta cuốc cái ta ngàn đời
Gió chiều bay đỗ chơi vơi
Đội trời và đội nón cời vun khoai
Có ai về dưới thôn Đoài
Nhờ ơn nhắn cuộc tình hoài xa xăm


Giọng thơ lục bát của Trần Vạn Giả lúc này rất riêng, mặc dù nó vẫn mang hơi hướm thời sự khi đó. Để chống lại sự sùng bái văn minh cơ khí, lúc này nhiều nhà thơ miền Nam do tiêm nhiễm tinh thần phương Đông, đã hết sức cổ vũ cho tinh thần “trở về với thiên nhiên”. Bối cảnh văn chương lúc này, số người cầm bút của giai đoạn trước 1960 vẫn đang nắm giữ các tạp chí văn nghệ lớn. Lớp cầm bút trưởng thành sau đó, nhất là những nhà văn nhà thơ trưởng thành từ miền Trung và Nam bộ rất muốn khẳng định vị trí của mình. Họ đã tự phát lập ra nhiều tờ “tạp chí tỉnh lẻ”, hoặc “tạp chí xuất bản bất định kỳ”, nhưng tất cả đều không đứng vững do thiếu vốn và thiếu đầu mối phát hành. Có người nhờ thái độ la hét, tự tạo các xì-căn-đan để nổi tiếng nhanh. Trần Vạn Giã đã không làm vậy. Và đến nay những người yêu thơ vẫn không quên anh. Thời gian là thước đo giá trị văn chương đã trả lời.
Trong tập thơ “Hồn Chữ” hôm nay tôi được đọc, có những bài thơ tự do, thực chất vẫn mang cái hồn lục bát. Nó vẫn rất “Trần Vạn Giã”. Như đoạn đầu của bài:

Thắp tình giữa mùa đông
Những con đường ta đi qua
Và những con đường ta sẽ đến
Mênh mông dấu đất chân người
Hãy bình thản mà đi
Với gió giữa mùa đông rét đậm
Bừng lên ý nghĩ trăm năm.
……

Qua những tháng năm, thăng trầm cùng cuộc sống quê hương, từ mốc năm 2000, Trần Vạn Giã lại lần lượt xuất bản những tập thơ hoàn toàn theo thể thơ lục bát. Năm 2006, trong lời tựa cho tập thơ lục bát “Trầm tư với lá” của anh, nhà thơ, dịch giả Đào Xuân Quý viết rằng: “Trần Vạn Giã đã đi vào một con đường quá gay go, nguy hiểm đối với người làm thơ xưa nay…Gay go, nguy hiểm vì rất dễ sa vào chỗ đơn điệu, dễ biến thành vè, dễ làm người đọc chán. Nhưng Trần Vạn Giã đã tránh được tất cả những điều đó và gây được ấn tượng tốt nhờ có những câu thơ chân thật, có nghĩa, có tình…
Hôm nay đọc “Hồn Chữ” được viết cách nay hơn 50 năm, người yêu thơ có thể thấy thêm rằng anh chính âm điệu “lục bát” đã làm giàu thêm hồn thơTrần Vạn Giã!

Tháng 12-2016
Võ Chân Cửu
( Bài tựa của Võ Chân Cửu in trong tập thơ "Hồn Chữ" của Trần Vạn Giã, NXB Hội Nhà Văn, phát hành tháng 10-2017
Hình trên : Nhà thơ TRẦN VẠN GIÃ

Quay lại In bản tin n�y Gửi tin n�y cho bạn b�  
 
 
 C�C TIN TỨC KH�C
CAO THOẠI CHÂU ,NHÀ THƠ ,NHÀ GIÁO VỚI THI PHẨM : BẢN THẢO MỘT ĐỜI (02/10)
TRẦN ÁNG SƠN, CUỐI CÙNG ANH TẮM GỘI MÌNH BẰNG THƠ (30/09)
NGUYỄN NGỌC TRẠCH với "ĐÊM TỰ TÌNH" (19/09)
LÊ NGỌC TRÁC-NHÀ THƠ, NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CÓ TÂM (17/09)
TRẦN HỮU NGƯ, NGƯỜI “ CHUYÊN TRỊ “BOLÉRO và VIẾT KHÔNG HỀ MỆT MỎI (11/09)
MANG VIÊN LONG : vạn vật đều vô thường. (02/09)
Từ Lục bát Miên Di, tới thơ siêu thực Bùi Minh Vũ (28/08)
PHIU * LINH TRONG CÕI THƠ PHẠM VĂN HẠNG (17/08)
“ĐÀ LẠT TÔI” NÂNG NIU TRIU MẾN (14/08)
NỖI BUỒN RIÊNG MÌNH VÀ NỖI BUỒN NHÂN THẾ CỦA NHÀ THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN? (09/08)
NGUYỄN TẤN ON " ...ĐÀ LẠT TÔI” (31/07)
Nguyễn Thánh Ngã “Viết từ sương mù và trên cánh hoa” (26/07)
Nguyễn Thế Kỷ CÓ ĐIỀU NHƯ CHƯA NÓI VỚI SÔNG TRÀ (19/07)
NGUYỄN AN BÌNH những trang thơ của tình yêu (14/07)
Sông Cà Ty trong thơ Người PHAN THIẾT (04/07)

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem