Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
NGÃ DU TỬ “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”  

giữa cuộc mưu sinh đầy hệ lụy của chốn nhân gian nhiều niềm vui, hạnh phúc nhưng cũng lắm nỗi buồn, bất trắc, đôi khi thực tế bắt con người thỏa hiệp để thích ứng, đối phó và khiến tâm hồn ta trở nên cỗi cằn, chai sạn, suy nghĩ biếng lười, hờ hững. Nhìn thời gian trôi qua một cách dửng dưng, nghe lá rơi chiều, trông bóng hoàng hôn tím chân trời mà không mảy may xúc cảm… Vậy mà, người thơ Ngã Du Tử vẫn làm một rong chơi giữa thường hằng như một sự bất chấp, trêu ngươi, phá tung sự kiềm tỏa, ngưng trệ để tìm về bản ngã, tìm về những điều thẳm sâu mà chỉ có văn chương mới dẫn lối đưa đường, neo giữ trong trái tim chúng ta những gì đẹp nhất, đáng trân trọng nhất. Đọc tập thơ, nhất là phần đầu, với 10 chương như 10 phân đoạn dù mỗi phân đoạn là một bài thơ lục bát. Nhưng rất hoàn chỉnh, trọn vẹn cả ý lẫn tình. Thật vậy, mỗi bài thơ mở ra theo mỗi hướng nhưng lại nhất quán trong chiều suy tư, trăn trở của tác giả. Nhà thơ, qua từng câu lục bát nhẹ nhàng nhưng lắng đọng như muốn đưa người đọc khám phá, tìm hiểu một cách đa chiều những câu thơ đậm chất thiền nhưng cũng rất đời đấy: (TRẦN ĐỨC SƠN) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 23/8/2017
TRẦN VIỆT KỈNH-LẶNG THẦM MỘT NỖI ĐAM MÊ

Những năm đầu thập niên 80, khi bắt đầu tập tẹ làm thơ, tôi có dịp tiếp xúc và làm quen với nhiều anh chị em văn nghệ sĩ ở Nha Trang. Trong số ấy có cặp vợ chồng nhà thơ Lê Khánh Mai - Trần Việt Kỉnh. Bấy giờ, cả hai anh chị đều là những nhà giáo đầy tâm huyết và rất say văn chương. Sáng tác của họ xuất hiện khá đều đặn trên tờ Tạp chí Văn Nghệ Phú Khánh, nhanh chóng trở nên quen thuộc với bạn đọc trong và ngoài tỉnh. Thời điểm ấy, Trần Việt Kỉnh được biết đến như một cây bút thơ có nhiều triển vọng, dù sở trường của anh vẫn là sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian. Cuối năm 1985, khi Hội VHNT Phú Khánh ra đời, Trần Việt Kỉnh là một trong những “hội viên sáng lập”, có những đóng góp tích cực vào phong trào hoạt động văn học của địa phương.

Trần Việt Kỉnh cầm tinh con hổ (1950), quê ở Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế. Sinh ra trên thành phố Huế ngày 1 tháng 8 năm 1950, lên 4 tuổi anh đã theo ba má tập kết ra Bắc. Tuổi thơ anh gắn liền với vùng đất giáp ranh giới tuyến quân sự tạm thời. Những năm tháng theo học các trường phổ thông ở Vĩnh Linh đầy gian khó, đã để lại những kỷ niệm không phai mờ trong ký ức của anh. Sau này, Trần Việt Kinh bồi hồi nhớ lại:

Giờ thủ công chẳng có màu

Gạch non làm đỏ, lá trầu làm xanh

Bút lá tre viết nhanh nhanh

Nét đậm, nét nhạt đã thành đời tôi

Sông quê bên lở, bên bồi

Cơm quê gói bở giấy trời - mo cau

(Bút lá tre – báo Văn nghệ Trẻ số 27, ngày 7-7-2002)
(Nhà văn NGUYỄN MINH NGỌC)

VŨ ANH KHANH-Một bài thơ sống mãi với đời

Trong công việc sáng tác thơ văn, có nhiều khi giống như công việc đồng áng của người nông dân. Có người cày sâu cuốc bẫm suốt cuộc đời, mới thu hoạch. Cũng có người chỉ gieo một mùa mà đã bội thu. Trong văn chương cũng vậy, có một số ít nhà thơ thành công và thành danh chỉ với một vài bài thơ (Dĩ nhiên sự thành công của số ít nhà thơ trong trường hợp này, còn phải kể đến tài năng, chất lượng nghệ thuật tác phẩm, bối cảnh xã hội, sự yêu thích và cảm nhận của người yêu thơ). Vũ Anh Khanh là một trong những trường hợp hiếm hoi ấy, với bài "Tha La xóm đạo".
Vũ Anh Khanh là bút danh của Võ Văn Khanh. Ông sinh năm 1926 tại Mũi Né thuộc thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận, qua đời vào năm 1956. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm truyện dài: Nửa bồ xương khô (2 tập – Tân VN, Sài Gòn, 1949), Bạc xíu lìn (Tiếng chuông – 1949), Cây ná trắc (Tân VN, Sài Gòn, 1947), truyện ngắn có: Ngũ Tử Tư (Tân VN, Sài Gòn, 1949), Đầm ôrô (Tiếng Chuông – 1949), Sông máu (Tiếng Chuông, Sài Gòn, 1949), Bên kia sông (Tân VN, Sài Gòn, 1949). Tác phẩm của Vũ Anh Khanh có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng Pháp ở Nam Bộ. Nhưng, dường như nhiều người chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ Tha La xóm đạo (LÊ NGỌC TRÁC )

Nhà văn VÕ HỒNG qua thơ TRẦN NGỌC HƯỞNG

Có những nhà văn, nhà thơ khi đi vào cuộc chơi chữ nghĩa họ không thuộc một nhóm, một trường phái nào cả. Họ không làm dáng, làm nổi bằng cách viết gai góc, hay tạo những giai thoại giật gân câu khách. Như những người nông dân, cần mẫn trên cánh đồng, họ âm thầm gieo những mùa hoa. Và, hoa đã cho hương, kết trái ngọt cho đời. Tác phẩm của họ, dù ở vào thời đại nào, dù xã hội hay chế độ chính trị nào vẫn được người đời trân trọng và mến yêu. Đó là trường hợp của nhà văn: Phan Du, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc, Võ Hồng... (Và còn nhiều nhà thơ, nhà văn khác nữa).
Võ Hồng đã lấy tên thật của ông làm bút danh. Ông sinh ngày 5/5/1921 tại làng Ngân Sơn tỉnh Phú Yên. Năm 1940, sau khi đậu tú tài, Võ Hồng đi làm công chức cho chính phủ Trần Trọng Kim và sau này là chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến năm 1949, Võ Hồng giã từ công việc của một viên chức nhà nước, ông chuyên tâm vào công việc dạy học và viết văn. Võ Hồng cầm bút khá sớm. Từ năm 1939, Võ Hồng đã có truyện ngắn đầu tay "Mùa gặt" đăng trên "Tiểu thuyết thứ Bảy" với bút hiệu Ngân Sơn. Trong cuộc đời sáng tác, Võ Hồng còn sử dụng các bút danh: Võ An Thạch, Võ Tri Thủy. Năm 1947, người vợ thân yêu của ông mất. Ông vừa nuôi con vừa dạy học và sáng tác. Năm 1959, Võ Hồng xuất bản tập truyện ngắn "Hoài cố nhân". Tác phẩm vừa ra đời đã được người đọc đón nhận nồng hậu. Từ năm 1959 đến năm 1993, Võ Hồng đã sáng tác và xuất bản hơn 20 tác phẩm, gồm: Hoài cố nhân (Ban mai – 1959), Lá vẫn xanh (Thời mới – 1962), Vết hằn năm tháng (Lá bối – 1966), Con suối mùa xuân (Lá bối – 1966), Khoảng mát (An tiêm – 1969), Bên kia đường (Mặt trời – 1968), Những giọt đắng (Lá bối – 1969), Trầm mặc cây rừng (Lá bối – 1971), Trong vùng rêu im lặng (HVN Nha Trang – 1988), Vẫy tay ngậm ngùi (NXB Trẻ – 1992), Hoa bươm bướm (Lá bối – 1966), Người về đầu non (Văn – 1968), Gió cuốn (Lá bối – 1969), Như cánh chim bay (Lá bối – 1971), Nhánh rong phiêu bạt (Lá bối – 1970), Thiên đường ở trên cao (Sở VHTT Nghĩa Bình – 1988), Áo em cài hoa trắng (Lá bối – 1969), Mái chùa xưa (Lá bối – 1971), Chia tay người bạn nhỏ (NXB Trẻ – 1991), Một bông hồng dâng cha (NXB Trẻ – 1991), Thương mái trường xưa (NXB Kim Đồng – 1993), Hồn nhiên tuổi ngọc, Thời gian mây bay...
Tác phẩm của Võ Hồng bao gồm nhiều thể loại: Truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết, truyện viết cho thiếu nhi... Trong những trang văn của Võ Hồng, chúng ta bắt gặp nét tinh tế trong diễn đạt. Lời văn trong sáng, trau chuốt và đậm chất thơ.
(LÊ NGỌC TRÁC )

HỒ DZẾNH "Nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa"

Từ những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ 20, trên văn đàn Việt Nam có 2 tập truyện ngắn gần như xuất hiện cùng một lúc. Cả hai tác phẩm đã được người đọc đón nhận với tất cả sự quý mến. Mãi đến hôm nay đã gần 70 năm, bao thế hệ người đọc yêu mến văn chương vẫn còn say mê hai tác phẩm ấy. Đó là tập truyện ngắn "Những ngày thơ ấu" của Nguyên Hồng và "Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh. Đây là hai trong những tập truyện ngắn hay của văn học Việt Nam ở thế kỷ 20.
Hồ Dzếnh tên là Hà Triệu Anh sinh năm 1916 tại làng Đông Bích xã Hòa Trường huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Ông mất vào ngày 13/8/1991 tại Hà Nội. Gần 60 năm cầm bút, Hồ Dzếnh để lại cho đời các tác phẩm chính: Về văn có: Dĩ vãng (Truyện vừa – 1940), Những vành khăn trắng (Truyện dài – 1942, ký bút danh Lưu Thị Hạnh), Tiếng kêu trong máu (Truyện dài – 1942), Một chuyện tình 15 năm về trước (Truyện dài, ký bút danh Lưu Thị Hạnh – 1943), Chân trời cũ (Tập truyện ngắn – 1943), Cô gái Bình Xuyên (Truyện vừa – 1946), Hồ Dzếnh - tác phẩm chọn lọc (1988). Về thơ có: Tập thơ Quê ngoại (1942), Hoa xuân đất Việt (1946).
Hồ Dzếnh viết truyện dài, tiểu thuyết, thành công với tập truyện ngắn Chân trời cũ. Nhưng, thơ mới thật sự làm cho tên tuổi của ông nổi tiếng và được đông đảo bạn đọc yêu thích.
Thơ Hồ Dzếnh tràn đầy tình cảm, chân thật, độc đáo, mang vẻ đẹp tuyệt vời và sâu sắc, mới lạ. Thơ lục bát của Hồ Dzếnh mang hơi thở tâm hồn phương Đông. Nhà thơ Bùi Giáng mỗi lần đọc những bài thơ lục bát của Hồ Dzếnh đều nhận xét với tất cả lòng cảm phục: "Chẳng khác giải ngân hà lấp lánh nhớ nhung trên bầu trời văn học Việt Nam ".(LÊ NGỌC TRÁC )

Nguyễn Vỹ - Nhân chứng của một thời đại

Nguyễn Vỹ là nhà thơ, nhà văn và là nhà báo lão thành trong làng báo miền Nam . Ông được người đời công nhận là một nhà báo dám nói lên sự thật. Về văn, Nguyễn Vỹ chuyên viết tiểu thuyết xã hội. Nhà văn – Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan nhận định về tiểu thuyết của Nguyễn Vỹ như sau: "Ông là một người giàu tình cảm, nhìn cuộc đời bằng con mắt bi quan, trái tim ông rung động khá nhiều...". Cùng với tiểu thuyết và các thể tài khác, Nguyễn Vỹ trước sau vẫn là một nhà thơ. Ông thật sự nổi tiếng về thơ. Từ năm 1941, mặc dù có những nhận định có phần khắt khe về Nguyễn Vỹ, nhưng cả Hoài Thanh – Hoài Chân và Vũ Ngọc Phan đều phải công nhận: "Nguyễn Vỹ là người có tài về thơ".
Nhiều thế hệ yêu thích bài "Sương rơi" và "Gởi Trường Tửu" của Nguyễn Vỹ. Hoài Thanh – Hoài Chân cho rằng 2 bài thơ này thật sự là kiệt tác của Nguyễn Vỹ. Hai bài thơ trên Nguyễn Vỹ viết với phong cách khác nhau. Ông đã tạo ra nhạc điệu riêng trong "sương rơi". Với bài "Gởi Trường Tửu", theo thể thất ngôn trường thiên, Nguyễn Vỹ viết trong cơn say với tâm trạng bi phẫn, u uất:
(LÊ NGỌC TRÁC)

ĐINH HÙNG-"Qua xứ ma sầu... gửi người dưới mộ"

Năm 1944, Đinh Hùng cùng với các nhà thơ: Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu chủ trương thực hiện giai phẩm Dạ Đài. Những người thực hiện và phát hành giai phẩm Dạ Đài với "bản tuyên ngôn tượng trưng". Đây là một tuyên ngôn nghệ thuật được người đương thời chú ý. Đinh Hùng, Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu... tự nhận mình là thi sĩ tượng trưng và tuyên bố: "Chúng tôi sẽ nối lại nghiệp dĩ của Baudelaire, tâm sự của Nguyễn Du – sự nổi loạn và ra đi của Rimbaud – nỗi cô đơn của những nhà thơ lãng mạn. Chúng tôi sẽ vén cao bức màn nhân ảnh, viết lên quỹ đạo của trăng sao – đường về trên cõi chết... Thi sĩ tượng trưng chúng tôi sẽ nói lên và chỉ nói lên bằng hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà cũng là thế giới âu sầu đây nữa. Bằng hình tượng, chúng tôi sẽ kể lại những câu chuyện xa xưa người ta kể cho chúng tôi nghe dưới ngọn đèn. Chúng tôi sẽ tìm hiểu linh hồn của những ca dao, tục ngữ. Chúng tôi sẽ tượng trưng hóa cái sức rung động của trẻ em trước chuyện cổ tích hoang đường và sức rung động của gã nông phu trước những bản đồng dao thuần phác..."
Với ý thưởng của tuyên ngôn ấy, năm 1954, Đinh Hùng cho ra đời tập thơ "Mê hồn ca".
"Mê hồn ca" xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, đất nước chia đôi nên việc phát hành có phần hạn chế. Tuy vậy, ai đã đọc "Mê hồn ca" cũng đều bị cuốn hút, ám ảnh bởi hình ảnh ma mỵ liêu trai, ám ảnh bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và chốn âm cảnh. Và, cảm phục trí tưởng tượng bay bổng đầy sáng tạo của Đình Hùng(LÊ NGỌC TRÁC)

Vũ Hoàng Chương-Tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc

viết về Vũ mà bỏ quên hình ảnh người đàn bà mang tên Oanh – người bạn đời của Vũ – kể như thiếu sót. Người đàn bà ấy nổi danh tài sắc một thời – đã cùng lênh đênh, chìm nổi theo số phận Vũ. Người đàn bà ấy có tình thương yêu vô lượng, có sức chịu đựng phi thường. Sự nghiệp của Vũ hôm nay được thành quả, một phần cũng bởi lòng hy sinh cao cả và ý chí sắt son của tâm hồn khả kính ấy. Trong suốt mười mấy năm thi phẩm, Vũ chỉ nhắc đến tên Oanh có một lần, trong tập Hoa đăng. Nhưng thật ra, bóng dáng ấy phảng phất cómặt trên mọi trang thơ vì nó đã dính liền vào thịt da, vào huyết mạch Vũ từ lâu rồi. Vũ rất nhạy cảm nên dễ giận hờn. Thực phẩm trần gian quá đắng cay, Vũ phải ẩn nấp vào trời Mây để tìm hương vị ngọt ngào cho cuộc sống riêng tư.

Việc nhận diện Vũ Hoàng Chương không mấy khó. Cái khó là viết về người bạn thân. Tôi băn khoăn, phân vân trước khi viết vì tự nghĩ mình không đủ sáng suốt để tìm hiểu Vũ với cái nhìn vô tư chăng?

(TẠ TỴ )

NHÀ THƠ HOÀI KHANH-Từ lục bát "nâu" đến lục bát "thiền"

Từ thưở đôi mươi, Hoài Khanh đã viết những câu thơ mà khi đọc xong nhiều người cảm nhận như có một cơn gió lạnh thổi qua tâm hồn của mình:
"...
Qua sông là một nhịp cầu
Qua tôi là một kiếp sầu vô chung"
Khi đọc hai câu trên trong tập thơ "Dâng rừng" của Hoài Khanh, Bùi Giáng, một nhà thơ, nhà giáo và là một nhà biên luận phải kinh ngạc thốt lên: "Anh chưa quá hai mươi tuổi, anh làm những vần thơ mà Nguyễn Du, Nguyễn Khắc Hiếu tái sinh nghe được phải lạnh mình trước cái vĩ đại, hồn nhiên của một tài hoa chưa ráo máu đầu. Cái vẻ ngây thơ thăm thẳm của lời thơ, chỉ những thiên tài xuất chúng mới có được". Quả thật vậy, qua thời gian, Hoài Khanh là một nhà thơ tài hoa. Nhưng, thơ của ông mang một nỗi u hoài. Phải chăng khi lớn lên, Hoài Thanh đã sớm chứng kiến những cảnh khổ đau của một thời đất nước chìm trong chiến tranh, loạn lạc nên trong thơ Hoài Khanh viết nhiều về nỗi buồn. Thơ lục bát của Hoài Khanh nhuần nhuyễn, mang đậm hồn dân tộc. Nhưng là những bài lục bát "nâu" – một màu nâu buồn mênh mông sâu thẳm. Chúng ta bắt gặp trong thơ Hoài Khanh nỗi đau thương của một kiếp người
( LÊ NGỌC TRÁC )

Trang đầu  |  Trang trước  |  Trang tiếp  |  Trang cuối

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem