Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
LÊ HOÀNG với " TIẾNG HOA RƠI”  

Không hiểu vì sao khi đọc “Tiếng Hoa Rơi” của lê Hoàng tôi lại liên nghĩ đến bài thơ “Sương Rơi” của Nguyễn Vỹ: “Sương rơi/ Nặng trĩu/ Trên cành/ Dương liễu/ Nhưng hơi/ Gió bấc/ Lạnh lung/ Hiu hắt/ Thấm vào/ Em ơi/ Trong lòng/ Hạt sương/ Thành một/ Vết thương…”. Tuy hai thể thơ khác nhau nhưng có lẽ tiếng rơi của hoa và tiếng rơi của sương đều làm cho cả hai tác giả “Thấm vào trong lòng thành một vết thương”. Khác với Nguyễn Vỹ, nhà thơ lê Hoàng không thấy sự rơi ngay trước mắt mà ngược lại, thấy vườn hoa xanh tươi ngay trước mắt: Dạo quanh vườn hoa tươi Nhìn từng cánh hoa cười Hương tình xuân thấp thoáng Xào xạc lá khô rơi. Là thi sĩ có khác, vui đó lại biến buồn ngay. Lê Hoàng chỉ thấy “Xào xạc chiếc lá rơi” mà nỗi buồn ập đến. Chỉ nhìn chiếc lá rơi nhà thơ đã liên nghĩ đến mùa xuân sắp qua và mùa hè sẽ đến, hoa sẽ tả tơi, tàn phai sắc thắm (CHÂU THẠCH) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 17/10/2017
Nhà thơ Vũ Cao: Sừng sững bên trời một Núi Đôi

Ngoài làm thơ, Vũ Cao còn viết truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết. Cuốn "Tuyển tập Vũ Cao" do NXB Hà Nội ấn hành năm 2002, phần văn xuôi của ông dày gấp 4 lần phần thơ. Vậy nhưng, đã nói đến Vũ Cao là người ta nói đến thơ; người ta gọi Vũ Cao là nhà thơ.


Kể cũng dễ hiểu: Ở lĩnh vực này, ông đã để lại cho đời một thi phẩm có sức sống vượt thời gian. Năm 2000, nhân "Giao thừa thiên niên kỷ", nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình đã làm cuộc phỏng vấn một số nhà thơ quân đội: Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Lê Thành Nghị, Vương Trọng, Hồng Thanh Quang, Nguyễn Hồng Hà. Câu hỏi đặt ra là: Nếu chọn 5 bài thơ hay nhất viết về anh bộ đội Cụ Hồ để mang vào thế kỷ XXI thì các nhà thơ sẽ chọn những bài nào? Kết quả: Gần 30% người được hỏi cho biết, một trong 5 bài họ chọn là bài "Núi Đôi" của Vũ Cao; gần một nửa số người còn lại nói nếu cho họ chọn nhiều hơn con số 5 một chút, họ cũng sẽ chọn "Núi Đôi". Với các nhà thơ chuyên nghiệp thì vậy, còn với đông đảo bạn đọc, có thể nói không ngoa rằng, "Núi Đôi" luôn nằm trong số những bài được họ chép sổ tay nhiều nhất. Các tuyển tập thơ tình được soạn từ nhiều chục năm nay cũng rất hiếm khi vắng cái bóng dáng lừng lững đầy ngùi ngẫm của… "Núi Đôi".

Thật ra, có đọc toàn bộ mảng thơ của Vũ Cao, ta mới thấy ông mang tư chất của một nhà văn nhiều hơn là một nhà thơ. Và "Núi Đôi" chính là một hiện tượng phá cách đột xuất, rất độc đáo của ông. Tuyệt đại đa số các bài thơ của Vũ Cao đều là thơ kể chuyện, có tả cảnh, tả việc rõ ràng. Hồi còn trẻ ông từng viết: "Cách đây mười năm, tôi có lần qua hang Cốc Xá/ Những xác giặc nằm bên nhau nghiêng ngả/ Râu tóc bơ phờ dưới những lùm cây/ Những khẩu súng duỗi nòng bên những cánh tay/ Những con mắt nhìn lên khủng khiếp" (bài "Cốc Xá"), thì khi có tuổi rồi, ông vẫn viết: "Nhiều lần tôi thấy bên công viên/ Mấy người đàn bà nằm/ Chân thõng gầm ghế đá/ Mắt nhắm nghiền/ Tóc xõa/ Những người đàn bà đói nghèo đi kiếm ăn/ Áo quần đẫm sương/ Thân phận vật vờ/ Đã bao đêm không biết nằm đâu/ Ghế đá lùm cây tạm ngủ" (bài "Nhiều lần tôi thấy"). Đó là những đoạn gọi là thơ nhưng thực chất đã phải làm thay nhiệm vụ phản ánh hiện thực của các thể tài văn xuôi. Và sự thực, chỉ cần ta bỏ đi chút vần nối ở cuối mỗi câu, hẳn người đọc sẽ thấy nó như thể những đoạn, những mảng… cắt ra từ một truyện ngắn
( Phạm Khải)

Trịnh Công Sơn, thiên tài và định mệnh *Tân Linh

"Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi/ Rồi một mai tôi về làm cát bụi" (Cát bụi)..."Thí dụ bây giờ tôi phải ra đi/ Tôi phải ra đi/ tay chia ly cùng đời sống... (Rơi lệ ru người). Rồi "Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời" và "Mệt quá thân ta này/ nằm xuống với đất muôn đời"... Đã rất lâu, Trịnh nhiều lần "nói dại" vậy. Và rồi đúng ngày nói dối năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới, Sơn đi thật, anh nằm xuống với đất muôn đời để lại khoảng mênh mông nỗi nhớ của người đời...


Trịnh Công Sơn, thiên tài và định mệnh

Năm ấy, một lần vào đầu thập niên 90 TK XX, lúc tôi đến thăm nhạc sĩ Văn Cao tại ngôi nhà ông đương ở, số 108 Yết Kiêu, Hà Nội, tình cờ gặp Trịnh Công Sơn ở đó. Hai nhạc sĩ nổi tiếng ngồi với nhau và còn có hai người bạn nữa, rượu Vân trong những cái chén nhỏ thơm lừng khiến sáng đông ấy hình như ấm áp hơn.

Họ nói những câu chuyện về nghệ thuật, về văn chương, hội họa rồi cuối cùng là âm nhạc. Vâng, âm nhạc đã đưa Trịnh đi tìm Văn Cao. Nhạc sĩ Văn Cao bảo: "Bạn tôi là nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từng nhận xét: "Sơn viết nhạc dễ như lấy chữ trong túi mình ra vậy. Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển, theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra".

Văn Cao kể rằng sau năm 1975 một năm, hai người mới gặp nhau nhưng từ trước đó, ông và Trịnh Công Sơn ngỡ đã là bạn của nhau từ bao giờ mặc dù Sơn kém ông 16 năm... Trịnh Công Sơn bảo: Bên Mỹ, ở trung tâm NASA, người ta cử bản “Thiên Thai” của Văn Cao trước khi lên vũ trụ… Hai nhạc sĩ tài năng này có điểm gì đó giống nhau. Có lẽ là về hình thể bên ngoài: người gầy thanh thoát, ngón tay dài trông rất tài hoa...

Vâng! Tài hoa vì cả hai đều viết nên những bản nhạc nổi tiếng, lại làm thơ cũng thật hay và vẽ thì thật đẹp. Thơ Trịnh là ca từ các bài hát của anh. Tôi nhớ GS Hoàng Ngọc Hiến có lần đã nói rằng bài hát "Đêm thấy ta là thác đổ" của Trịnh có ca từ là "một bài thơ tình có thể xếp vào hàng hay nhất thế kỷ". Ngày xuân bước chân người rất nhẹ/ Mùa xuân đã qua bao giờ/ Nhiều đêm thấy ta là thác đổ/ Tỉnh ra có khi còn nghe...

Lúc Trịnh rời nhà Văn Cao, người nhạc sĩ già ngồi riêng tiếp chúng tôi, ông bảo: Nếu được chọn ba tên tuổi trong làng nhạc Việt Nam thế kỷ này, tôi sẽ đề cử ba người, trong số ấy có Sơn.

- Bác có thể cho biết hai người còn lại?

- Nói thì bảo là không khiêm tốn nhưng vừa rồi, thi làm quốc ca, thì mười bảy tác giả vào chung khảo kéo đến nhà tôi bảo rằng: Ông mới là "tác thật" của Quốc ca, còn chúng tôi đều là "tác giả" sất!

Văn Cao cười và tôi biết ý ông đã tự đề cử mình. Tất nhiên với ông còn những tuyệt phẩm khác… Còn người thứ ba?

Đó cũng là một người bạn tôi. Ông ấy đã có một quá khứ âm nhạc rất vẻ vang mà
(Tân Linh)

Nhà thơ Phạm Hầu Hỡi ôi! người cũng là du khách...


Nhớ những buổi trưa hồi ấy, nghỉ lại ở cơ quan (NXB Hội Nhà văn - 65 Nguyễn Du), tôi hay trò chuyện với nhà thơ Tế Hanh. Nhà thơ lúc này mắt đã kém lắm, chỉ có khả năng đi bộ trên quãng đường quen thuộc từ nhà ông bên phố Nguyễn Thượng Hiền sang phố Nguyễn Du chừng vài trăm mét. Nhưng được cái, đến đây thì ông có thể gặp được bạn văn đủ các thế hệ. Riêng các buổi trưa, tôi hay hỏi chuyện ông về những nhà thơ đã khuất vắng khỏi tầm nhìn của thế hệ chúng tôi.

Có lần nhắc đến Phạm Hầu, tôi dùng bộ óc duy lý để thắc mắc câu thơ nổi tiếng trong bài "Vọng hải đài": "Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai". Tri kỷ tri âm tìm mới khó, chứ cách mặt xa lòng là lẽ thường, việc chi Phạm Hầu phải hỏi! Nhà thơ Tế Hanh phải giải thích cho tôi: "Theo cách nói của người miền Trung, xa lòng có nghĩa người một lòng với mình mà phải xa cách". Câu thơ hay thường có cái lạ là toàn bộ tiết điệu, hơi thơ, cảm xúc của nhà thơ ám ảnh ta, chiếm lấy hồn ta ngay khi ta chưa kịp thâu tóm ý nghĩa. Nhà thơ Tế Hanh khi biết cái chết thê thảm của Phạm Hầu khi ông còn rất ít tuổi đã xúc động viết một bài in trên báo Bạn Đường xuất bản ở Thanh Hóa (1944). Khi đọc tôi nghe, đôi mắt Tế Hanh mờ đục, nhưng những câu thơ của Phạm Hầu ông thuộc từ thiếu thời vẫn vằng vặc sáng trong ông:

Trong đầy ải mình trần tê ngọn lửa
Tiệc chim bằng rỉa rói một lòng đơn

Hình tượng sự cô đơn cao thượng như Prométhée lấy lửa của trời bị chim ác rỉa thịt thật kiêu hãnh! Đó phải chăng là ngọn lửa lý tưởng tự do, ông mơ được góp phần mang lại cho nhân dân, sẵn sàng chịu sự tra tấn, tù đày. Nếu còn sống, hẳn ông đã đứng trong hàng ngũ các nhà thơ cách mạng cùng với Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…

Nhờ có một số tư liệu riêng và sự bổ sung quý báu của nhà sưu tầm, biên soạn Hoàng Minh Nhân qua cuốn "Vẫy ngoài vô tận" (NXB Thanh Niên, 2001), tôi đã cung cấp được mục từ Phạm Hầu cho lần tái bản cuốn "Từ điển văn học" sắp tới (sau bộ mới, 2004) khoảng 1.200 từ
(Văn nghệ Công an)

NGUYỄN HUỲNH SA với “ Chong chóng ” của tôi xưa

“Lá dứa biển ba thắt thành chong chóng
Tuổi thơ con xoay vun vút gió đồng
Xếp giấy vở con tập làm chong chóng
Góc sân trường chờ ngọn gió đi rong
Trước sân đời đâu dễ cứ lông nhông
Cứ đợi gió xuôi chiều xoay cuộc sống
Không lá dứa con vẫn là chong chóng
Trận trốt đời ràn rạt quất sau lưng
Buổi quay về, lạo xạo cát quanh chân
Khách sạn, nhà hàng chiều lô nhô bãi
Gặp lá dứa níu vai mình đau nhói
Chong chóng ngậm ngùi- chong chóng của ba xưa.”

Cách đây gần 5 năm (năm 2006), khi gặp nhau trên đỉnh gió Tân An, Nguyễn Huỳnh Sa có đưa cho tôi bài thơ trên mang tựa đề “ Chong chóng”. Lúc ấy, tôi không đọc ngay mà cất vào túi áo. Mãi đến khi về nhà, tôi mới lấy ra đọc. Càng đọc, tôi bỗng nhiên bị cuốn hút bởi bài thơ . Tôi đọc đi, đọc lại bài thơ “ chong chóng” của Nguyễn Huỳnh Sa nhiều lần và nghe lòng mình trĩu nặng
Nhà thơ Lê Đạt đã từng nói: “ thơ hay là đọc xong phải có sự thay đổi trong tâm hồn mình. Thơ hay giống như đi qua đò, có gió, có sóng và sang được bờ bên kia. Thơ hay không chỉ đứng bên bờ này mà thôi…thơ hay có đạo đức cao vì nó tạo ra một thói quen đạo đức mới. Ở thơ hay: đạo đức, nhân văn, mỹ học là một…”.
(LÊ NGỌC TRÁC )

NGƯỜI NHẠC SĨ TÀI HOA CỦA ĐẤT MẸ NGOAN CƯỜNG

Những người dân Quảng Ngãi khi sống xa quê hương đều mang trong tâm hồn mình hình ảnh núi Ấn Sông Trà. Có lẽ vì thế nên mỗi lần người Quảng Ngãi họp mặt đồng hương, bài hát Quảng Ngãi Đất Mẹ ngoan cường của Nhạc sĩ Trương Quang Lục được nhiều người hát một cách say sưa với tất cả tình cảm của mình:
“Anh từng nói với em về Quảng Ngãi. Đất anh hùng sinh du kích Ba Tơ. Trong kháng chiến từ núi rừng sông bãi không cho quân giặc chiếm bao giờ. Như ngàn tiếng hát ru từ thưở nhỏ- Sóng sông Trà âm vang mãi tim ta - Luôn thôi thúc trả mối thù Sơn Mỹ, ta ghi sâu nợ máu không nhoà /2/ Quảng Ngãi ơi còn nhớ chăng những ngày vui đồng khởi. Đỏ bóng cờ từ Bình Sơn đến Sa Huỳnh lộng gió. Quảng Ngãi ta đó đất mẹ thân thương. Tiếng hát bờ xe ven sông Trà Khúc. Tiếng hát quật khởi ngày đêm không dứt. Mùa cá chuồn đầy bến đêm đêm dội sóng. Những con thuyền trong gió đón chờ anh.
Rầm rập như sao … hò lơ…đoàn quân giải phóng … hò lơ…các anh về đây quê hương chào đón. Ngọn cờ chiến thắng … hò lơ…vờn bay trong nắng … hò lơ…… hò lơ… câu ca ta chào quê hương trăm mến ngàn thương. Núi Ấn Sông Trà mai này sẽ nở hoa. Quảng Ngãi anh hùng sáng ngời trong lòng ta.
( LÊ NGỌC TRÁC )

Nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương: Lợi danh như bóng mây chìm nổi...


Ngôi nhà của "quận chúa" nằm trong con hẻm Lê Văn Sỹ, Tp HCM gợi nhớ đến Hương Bình Thi Xã của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị ở Huế. Hằng ngày Thùy Khương trang rộng cửa chào đón nhiều tao nhân mặc khách. Họ đến vì sự ngưỡng mộ cũng có, vì tình yêu thơ cũng có và hơn hết họ đến vì tấm lòng của nữ sĩ út trong nhóm Quỳnh Dao - nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương.



Tri kỷ với cha

Hình ảnh người cha thân thương đã được nữ sĩ ghi lại qua cuốn "Hồi ức về cha tôi Ưng Bình Thúc Giạ Thị" đã xuất bản năm 1996 và tái bản năm 2002. Nữ sĩ đã học cách sống giản dị đời thường của cha (mà bà gọi cha mình vừa là Thầy vừa là Bạn), tuy là một vị quan, sau khi về hưu vẫn sống đời đạm bạc. Ngoài nuôi dạy con, cụ còn dạy làm thơ, dạy về cách đối nhân xử thế. Hình ảnh, nhân cách sống của cụ luôn ghi đậm trong tâm trí "quận chúa" Hỷ Khương: "Lời xưa di huấn thời son trẻ/ Con vẫn mang theo suốt cuộc đời". Đó là "Hãy sống vị tha và đừng vị kỷ".

Cụ khuyên dạy việc học của các con:

Chớ ỷ giàu sang, chớ thị quyền,
Học hành con phải gắng cho chuyên.
Hiếu trung hai chữ ngàn thu rạng,
Sẵn tấm gương soi đạo Thánh Hiền.

Nữ sĩ Mộng Tuyết cho rằng, Hỷ Khương có phước khi được cha mình xem như tri kỷ. Cách đây 45 năm - năm 1966, trong bài "Dòng Hương Giang nước vẫn trong", bà viết: "Trong lịch sử văn học của mỗi nước thường ghi những mối tình tri âm tri kỷ giữa hai người bạn, giữa cặp bạn đời, giữa hai nhà thơ, văn đồng điệu, mà hình như hiếm có mối tình thắm thiết tri âm, tri kỷ giữa hai cha con: một già đã ngoài 80, một trẻ chừng độ trăng tròn:

Cha con ta là đôi tri kỷ,
Chung bóng chung hình giữa nước non
( Nguyễn Tý )

NGUYỄN ĐÌNH THI NÓI VỀ NGUYỄN TRỌNG TẠO

Năm 1992, tháng 4, tại một khu tập thể của giới văn nghệ trên đường Hải Thượng Lãn Ông (TP Hồ Chí Minh), nghệ sĩ Nguyễn Đình Thi tiếp chuyện tôi (tức Nhật Hoa Khanh) bốn buổi.

Năm 2002, tháng 3 và tháng 4, tại Hà Nội, ông tiếp tôi tám buổi (chưa kể hai buổi “thêm”).

Trong tám buổi thuộc năm 2002, tác giả Vỡ bờ dành toàn bộ hai buổi thứ năm, thứ sáu để nói về thế hệ văn nghệ sĩ tham gia cách mạng từ thời chống Mỹ cứu nước.

Buổi thứ sáu, tác giả Vỡ bờ dành ra một giờ (từ 13g đến 14g) để nói về Nguyễn Trọng Tạo.

Buổi này diễn ra tại tầng hai (tức lầu một) Nhà hàng Bô Đê Ga (phố Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm), suốt từ 9 giờ sáng tới 18 giờ 30 phút một ngày đầu tháng 4-2002.

Giữa trưa, Nguyễn Đình Thi mời tôi vừa nghỉ tại chỗ, vừa ăn bít-tết từ 12g đến 13g.

* * *

Uống hết ly cà phê sữa nóng, Nguyễn Đình Thi nói:

─ Một trong những văn nghệ sĩ trẻ xuất hiện cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước mà tôi chú ý là Nguyễn Trọng Tạo.

Sinh năm 1947, người Diễn Châu, Nghệ An, dòng dõi một nhà nho nghèo không đỗ đạt cao, Tạo vào bộ đội năm 1969.

Năm ấy, Tạo chỉ mới học hết cấp 3 phổ thông (chương trình mười năm). Trong cuộc chống Mỹ cứu nước, Tạo sáng tác và phụ trách đội Tuyên truyền Văn hóa thuộc Quân khu 4, in thơ rải rác trên báo nhưng chưa có đóng góp gì quan trọng.

Mãi đến 1976, sau thống nhất đất nước khoảng một năm, anh lính văn nghệ quân đội 29 tuổi thông minh nhưng vẫn nặng giọng xứ Nghệ mới được cử tham gia Trại Viết văn thuộc Tổng cục Chính trị (Quân đội Nhân dân Việt Nam). Sau đó, anh lính văn nghệ lớp 10 được cử đi học Đại học Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, Khóa 1.

Lý lịch khoa học nói trên của Tạo do Hoàng Ngọc Hiến cung cấp cho tôi.

Coi Tạo như em út và quý mến Tạo, cho nên Hiến ghi chép cẩn thận lý lịch khoa học của Tạo. Hiến nói với tôi như thế.

Tôi biết Tạo chủ yếu do chính tôi tìm hiểu về Tạo, nhưng một phần nhờ Hoàng Cầm và Hoàng Ngọc Hiến.

Có lần, năm 2001, năm đầu tiên thế kỷ 21, Hoàng Cầm đọc thuộc lòng cho tôi nghe một số đoạn thơ của Tạo trong các tập thơ Đồng dao cho người lớn và Nương thân. Hoàng Cầm bảo tôi nên đọc hai tập thơ này. Tôi nói: đã đọc và đọc kỹ.
(NHẬT HOA KHANH )

THANH THẢO Với những câu thơ mềm mại mà mãnh liệt

Với thi phẩm “Hoa niên”, Tế Hanh nhận giải thưởng Tực lực văn đoàn từ năm 1939, trước khi Thanh Thảo ra đời 7 năm. Là một người có vị trí vững chắc trong nền thi ca Việt Nam , lúc sinh thời, nhà thơ Tế Hanh đã từng nói về những nhà thơ của quê hương ông như sau: “… Tôi chỉ là cái gạch nối giữa Bích Khê và Thanh Thảo…”. Với một lời nhận xét như thế, chúng ta trân trọng sự khiêm tốn của Tế Hanh. Và, thấy ông đánh giá cao về Thanh Thảo. Theo thời gian, chúng ta càng nhận thấy những đánh giá của Tế Hanh về Thanh Thảo càng chính xác.
Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ngay sau khi tốt nghiệp đại học ở Hà Nội, Thanh Thảo xung phong trở về miền Nam chiến đấu góp phần giải phóng quê hương. Ở chiến trường miền Nam , Thanh Thảo làm phóng viên, công tác tại đài phát thanh Giải Phóng. Sau ngày đất nước thống nhất, Thanh Thảo chuyên hoạt động trên lĩnh vực văn học nghệ thuật và báo chí.
Qua vài nét tiểu sử cuộc đời của Thanh Thảo, chúng ta thấy có một sự trùng hợp lý thú: Năm 1946, Bích Khê “Nhà thơ có những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam ” vĩnh biệt trần gian; Cũng là năm Thanh Thảo cất tiếng khóc đầu đời chào quê mẹ Quảng Ngãi thân thương.
Thanh Thảo xuất hiện trên bầu trời thi ca Việt Nam vào những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những trang thơ của Thanh Thảo viết từ chiến trường miền Nam khói lửa, ác liệt, nóng bỏng, dữ dội, trần trụi đã tạo được nét riêng
(LÊ NGỌC TRÁC )

Trang đầu  |  Trang trước  |  Trang tiếp  |  Trang cuối

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem