Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
"XÓM TRĂM NĂM" MƠ VỀ NƠI XA THẲM  

"Xóm trăm năm" là tập thơ in chung của các tác giả: VŨ KHẮC TĨNH, NGUYỄN TẤN SĨ, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG, NGUYỄN ĐỨC DŨNG, NGUYỄN BÁ HÒA, BÌNH ĐỊA MỘC, PHẠM DƯƠNG NAM, TRẦN XUÂN AN: Những cây bút cùng thế hệ U50, cùng từng sinh sống, gắn bó với quê hương Tam Kỳ - vùng đất nằm chính giữa đất nước Việt Nam tính theo đường thiên lý Bắc Nam. Vũ Khắc Tĩnh, Nguyễn Tấn Sĩ, Nguyễn Thị Phương Dung, Nguyễn Đức Dũng, Nguyễn Bá Hòa, Bình Địa Mộc, Phạm Dương Nam, Trần Xuân An là những cây bút đã định hình, có những thành công trên con đường sáng tác thơ văn. Đọc "Xóm trăm năm", người đọc bắt gặp Vũ Khắc Tĩnh với tâm sự của một lãng tử gởi vào hư vô lời sám hối, lòng vẫn vọng về miền cố thổ (LÊ NGỌC TRÁC) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 22/5/2018
“Thơ kinh” XUÂN LY BĂNG

“Thơ kinh” XUÂN LY BĂNG
Nhà thơ Xuân Ly Băng, tên thật là Lê Xuân Hoa, sinh ngày 23/4/1926 tại Diễn Châu- Nghệ An. Ông từng theo học tại: Diễn Châu, Nghi Lộc, Hà Nội, Sài Gòn- Gia Định. Ông được thụ phong linh mục vào ngày 19/7/1959. Đến ngày 25/1/1998, nhận sắc phong Giám chức danh dự của Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II.
Ông sáng tác rất nhiều thơ, đến năm 2000, Xuân Ly Băng đã phát hành hơn 10 tập thơ ( gồm: Nỗi niềm, Hoa vùng sa mạc, Thơ kinh, Hương kinh, Tình đạo, Xin một mảng chiều, Kinh trong thời gian, Sẽ như thế nào, Sử thi, Thơ từ chuỗi ngọc, Sử thi, Tuyển tập thơ Xuân Ly Băng).
Cảm hứng trong trong dòng chảy của thơ Xuân Ly Băng bắt nguồn từ đức tin Thiên chúa. Nhà thơ như là những sứ giả giúp cho chúng ta tìm thấy niềm tin. Thơ Xuân Ly Băng rất gần gũi với cuộc đời chúng ta, toả ngát một tình thương cao cả, tinh thần và đầy lòng trung hậu. Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp những nét lãng mạn trong thơ Xuân Ly Băng thì cũng chỉ là một thứ lãng mạn đã được thăng hoa, được gột rưả những trần trụi của đời thường để rồi hoá thân thành Thơ kinh.
(LÊ NGỌC TRÁC)

PHI VÂN - NHÀ VĂN ĐỒNG QUÊ RẶT RÒNG NAM BỘ

Ở Việt Nam vào thập niên 1940, viết về dân quê, nếp sống đồng ruộng bạn đọc miền Bắc nghĩ ngay tới O chuột, Giăng thề của Tô Hoài, còn ở miền Nam là Tình Quê, Đồng Quê. Cả hai tác giả đều gắn bó máu thịt với miền quê mình sinh ra, lớn lên, Tô Hoài thì quan sát tinh tế, bố cục gọn gàng, mạch văn uyển chuyển trong từng truyện ngắn, còn Phi Vân thì lăn lộn giang hồ, chất tươi tắn, roi rói đời sống của miền đất mới hiện ra lồ lộ trong từng trang viết. Cả bối cảnh làng quê Nam bộ xa xôi hẻo lánh với những người nông dân chất phác, cục mịch sống với tập tục cổ hủ, lạc hậu, cuộc sống cực nhọc tối tăm miệt Hậu giang, rừng U Minh khiến người đọc chạnh lòng, thương xót. Chung một đất nước mà lúc đó, Sài Gòn chỉ cách nhau vài trăm cây số xe chạy tràn ngập ánh sáng văn minh, còn thôn quê "chó ăn đá, gà ăn muối", thui thủi với bóng tối miên man, thói hư tật xấu. Những địa danh như hóc Bà Tó, xóm Kiến vàng, tắc Ông Do, mương Chiệc Kịch, Tham Trơi, U Minh, Đầm Cùn…là những cái tên mang dấu ấn một thời của tổ tiên đi khai hoang, mở rộng đất đai về phương Nam, đọc lên mường tượng được vẻ hoang sơ, mộc mạc xa xưa.



Phi Vân tên thật là Lâm Thế Nhơn, sinh năm 1917 trong một gia đình trung lưu ở Cà Mau. Ông từng là một nhà báo chuyên viết phóng sự, truyện ngắn cho hầu hết các nhật báo, tuần báo, tạp chí ở miền Nam lúc bấy giờ như Tiếng Chuông, Dân Chúng (do Đảng Cộng sản Đông dương trực tiếp chỉ đạo), Tiếng Dân (của cụ Huỳnh Thúc Kháng) và chủ bút tờ Thủ Đô thời báo. Tác phẩm của Phi Vân gồm có : Dân Quê, Tình Quê, Cô Gái Quê, đáng chú ý nhất là tập phóng sự Đồng Quê (đoạt giải nhất cuộc thi văn chương của Hội Khuyến học Cần Thơ năm 1943). Tập phóng sự Đồng Quê được một nhà văn Trung quốc dịch ra tiếng bạch thoại tựa là Nguyên Dã năm 1950. Ông tâm sự ; "Sau khi tuyên bố kết quả giải thưởng văn chương năm 1943, Hội Khuyến học Cần Thơ có tổ chức một buổi phát thưởng long trọng, có đầy đủ thân hào, nhân sĩ, các nhà tai mắt ở địa phương và nhiều bạn văn từ các tỉnh xa về tham dự.



Rủi thay, vào lúc đó tôi vừa phiêu lưu trên hai tháng trong cánh rừng sâu vùng Bến Cát - Chơn Thành - Tây Ninh đi tìm tài liệu viết một thiên phóng sự đường rừng. Lúc trở về, tôi bị rét rừng nặng. Ngày phát thưởng là ngày tôi đau vùi, nóng mê man, không còn biết trời đất gì nữa. Buổi lễ không thể hoãn lại, vì thiệp mời đã gởi đi các nơi. Mấy người bạn tôi phải 'lê' tôi từ Sài Gòn xuống Cần Thơ trong tình trạng bệnh hoạn nguy kịch nhất. Khi tới nơi, bác sĩ Lê Văn Ngôn - một nhân viên trong ban tổ chức - đến xem mạch và lắc đầu. Cơn sốt của tôi lên đến 40 độ và tôi vẫn mê man…Trao giải thưởng xong, sau khi run rẩy đọc vài lời, tôi xỉu xỉu muốn ngất đi và được dìu vào trong để bác sĩ Lê Văn Ngôn sẵn đồ nghề túc trục tại đó chích thêm cho một mũi thuốc khoẻ !"*.
(TRẦN HỮU DŨNG )

Một phút dừng chân Vọng Hải đài

Cứ mỗi lần có dịp lên Ngũ Hành Sơn, đứng vào cái cửa đá bên Vọng Hải đài trên hòn Hỏa Sơn nghe gió từng luồng từng ngọn từ mênh mông biển khơi thông thốc thổi vào, là cứ y như rằng, tôi lại tưởng ra trong vô hạn vô hồi gió ấy có tiếng thơ Phạm Hầu như một thứ diệu âm ngày ngày khắc vào đá núi: Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận. Chẳng biết xa lòng có những ai?
Cố nhiên là từ xưa nay, du lãm qua vùng non thiêng thắng tích này, bao văn nhân thi sĩ từng viết nên không biết bao nhiêu tác phẩm. Thế nhưng dường như ngọn thi sơn “Vọng Hải đài” mà thi sĩ Phạm Hầu đã xây thành từ hơn nửa thế kỷ trước, vẫn là cái đài thơ đẹp lung linh và chót vót, thật khó lòng cho bất cứ ai có thể điền tên thay vào đấy được.

Chẳng biết trong lòng ghé những ai. Thềm tim từng dội gót vân hài. Hỡi ôi! Người chỉ là du khách. Một phút dừng chân Vọng Hải đài. Một phút du khách dừng chân hay là một khoảnh khắc sinh thành huyền thoại, để từ đó ký gửi vào vô tận một “Vọng Hải đài” thơ bên cạnh một Vọng Hải đài đá núi chon von sừng sững trước bao la biển cả, như muốn thi thố cùng tháng năm nhật nguyệt một sức sống trường cửu.(Nguyễn Nhã Tiên )

"Bóng nai buồn vạn cổ"trong thơ Trần Tuấn Kiệt* Lê Ngọc Trác

Trần Tuấn Kiệt có bút hiệu Sa Giang. Ông sinh ngày 01 tháng 06 năm 1939 tại Sa Đéc, từng theo học trường Cao đẳng Quốc gia Âm nhạc (Sài Gòn). Trần Tuấn Kiệt xuất hiện trên bầu trời thi ca cùng thời với các nhà thơ: Nguyên Sa, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Hoài Khanh, Thanh Tâm Truyền... từ những năm 50 – 60 trong thế kỷ XX.
Năm 1971, Trần Tuấn Kiệt đạt giải nhất về thơ, giải văn chương quốc gia (Sài Gòn) với tập thơ "Lời gởi cây bông vải". Chỉ trong vòng 7 năm, từ 1963 – 1970, Trần Tuấn Kiệt đã sáng tác và xuất bản 10 tập thơ, gồm: Thơ Trần Tuấn Kiệt, Nai, Bài ca thế giới, Cổng gió, Triền miên ngâm khúc, Cỏ nội, Mê cung, Màu kỷ niệm, Niềm hoan lạc, Lời cây bông vải. Về truyện có tác phẩm: Sa mạc lan dần, Tiếng đồng nội. Và , tập khảo luận: Thi ca Việt Nam hiện đại.
Trước năm 1975, Trần Tuấn Kiệt tổ chức nhà xuất bản Hồng Lĩnh.Ngoài ra,ông còn cộng tác với báo, tạp chí xuất bản ở miền Nam như : Sinh lực, Văn hóa ngày nay, Vui sống, Phổ thông, Nghệ thuật...
Vì mưu sinh, Trần Tuấn Kiệt còn viết sách võ thuật, truyện thần thoại (với các bút danh: Việt Thần, Việt Long, Duy Thức...).
Những người cùng thời và ngay cả những cây bút chuyên viết lý luận phê bình văn học đều công nhận: Trần Tuấn Kiệt có tài về thơ và làm thơ rất nhanh. Thơ Trần Tuấn Kiệt cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh, giai điệu nhẹ nhàng. Phần nhiều thơ của Trần Tuấn Kiệt đều ngắn, gần như đoản khúc, được viết bởi cảm xúc chân thực nên dễ thấm vào lòng người yêu thơ.
"lòng ta vì quá đỗi nhớ thương
cành hoa bụp cũ khóc bên đường
bến khuya Sa-đéc trăng mười sáu
mấy độ chìm theo sóng lớp lang

hỡi người con gái bến Tân Qui
nàng hát ta nghe tiếng hát gì
tóc xõa bốn trời trăng gió tụ
mây vờn âm điệu nét phương phi

hát nữa nàng ôi não bốn trời
cành hoa bụp cũ bến kia rơi
quê hương khúc hát chừng đưa lại
lớp sóng trường giang lạnh đến trời"
("Ngày về")
( LÊ NGỌC TRÁC )

Tế Hanh mãi mãi tuổi hoa niên

Nhà thơ Tế Hanh sinh ngày 20 tháng 6 năm 1921 tại xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Tham gia Cách mạng tháng 8.1945. Đã trải qua các công tác văn hoá, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng. Năm 1948, ở trong Ban phụ trách Liên đoàn văn hoá kháng chiến Nam Trung Bộ. Uỷ viên thường vụ Chi Hội Văn nghệ Trung ương. Năm 1957 khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, là Uỷ viên thường vụ Hội khoá I, II. Uỷ viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nhà văn Việt Nam (1963), tham gia nhiều khoá Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, giữ các chức vụ: Trưởng ban đối ngoại (1968), Chủ tịch Hội đồng dịch (1983) Chủ tịch Hội đồng thơ (1986). Mất ngày 16 tháng 7 năm 2009 tại Hà Nội. Giải thưởng văn học: GIải Tự lực Văn đoàn năm 1939. Giải thưởng Phạm Văn Đồng do Hội Văn nghệ Liên khu V tặng. Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật đợt I, năm 1996…

Tôi đến với thơ Tế Hanh từ một trong những tác phẩm đầu tiên của anh viết hồi còn đi học ở Huế. “Những ngày nghỉ học” (1938). Tôi không nhớ đã đọc bài thơ ấy ở đâu, trên báo “Ngày Nay” hay trong tập “Hoa niên”, tập thơ đầu tiên của tác giả. Những câu thơ đến bây giờ tôi vẫn thuộc lòng:

Những ngày nghỉ học tôi hay tới

Đón chuyến tàu đi đến những ga

Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu

Ngàn đời không đủ sức đi mau

Có chi vương víu trong hơi máy

Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau...

sao mà có sức lay động tâm hồn lứa học trò chúng tôi như vậy! Thời kỳ 1941-1945 tôi học ở trường Quốc học Qui Nhơn. Xa quê hương, gia đình trên 200 cây số, mỗi năm chỉ được hai lần về sống với làng quê, với những người ruột thịt của mình (Tết và nghỉ hè) trong tôi luôn khắc khoải nỗi nhớ quê, nhớ người thân. Trường tôi lại ở gần ga xe lửa Qui Nhơn, ngày đêm vang vọng tiếng còi tàu. Đêm nằm trong ký túc xá, theo dõi từng chuyến tàu đi, về đến thuộc lòng... Không thể nào ngủ được. Thế rồi, cùng với một vài bạn thân cùng quê Khánh Hoà, chúng tôi bí mật tổ chức “xé rào” (hiểu theo nghĩa đen và nghĩa bóng). Đứa canh chừng bác cai trường (bảo vệ), đứa dọn gai, trổ lối chui qua rào keo phía sau ký túc xá, sau đó nguỵ trang lại cẩn thận. Từ đó mỗi buổi chiều, sau giờ ăn cơm tập thể ở nhà ăn, chúng tôi lại nháy nhau trốn khỏi trường bằng lối đi “tự tạo” ấy để ra ga chơi, xem người đi, người về, xem những cuộc tiễn đưa có khi đẫm nước mắt. trưởng (người Pháp - GN) hoặc tổng giám thị bắt gặp, sẽ bị đuổi học đấy!”.( GIANG NAM )


Thơ Trần Dần- bản giao hưởng của lý trí

Nhà thơ Trần Dần sinh ngày 23.8.1926 ở thành phố Nam Định, Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Sau khi thi đỗ tú tài phần II ở Hà Nội, Trần Dần bắt đầu tham gia cách mạng, kháng chiến chống Pháp và hoạt động văn nghệ. Các tác phẩm chính đã xuất bản: Người người lớp lớp (1954), Bài thơ Việt Bắc (1990), Cổng tỉnh (1994), Mùa sạch (1997)…Ông đã được giải thuởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam 1995 và giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật 2007. Trần Dần mất ngày 17.1.1997, để lại một di cảo thơ khổng lồ, gồm những sáng tác thể nghiệm của ông qua nhiều giai đoạn, đã được gia đình và bạn bè cho xuất bản một phần trong tuyển tập thơ Trần Dần mới đây.

Thể nghiệm thơ- ngọn gió tinh thần của cứu rỗi


Nhận định về những tìm tòi, đổi mới thi pháp của nhà thơ Trần Dần, một người cùng thế hệ thi ca cách tân với ông là nhà thơ Hoàng Cầm đã cho rằng: “Trần Dần là số 1, ông ấy lù lù như một núi Thái Sơn về cách tân thơ và có rất nhiều đóng góp cho thơ hiện đại. Trần Dần chủ định đổi mới thơ và tìm tòi, cân nhắc trong từng câu chữ. Trần Dần lặng lẽ kiên trì đổi mới thơ sao cho bài sau phải khác bài trước theo một cách làm khác người. Trần Dần đổi mới ngay từ trong kháng chiến khi viết bài thơ dài Việt Bắc. Ông Trần Dần quyết định chôn “Thơ mới Tiền chiến”. Thật ra “Thơ mới Tiền chiến” cũng có đóng góp lớn cho nền thơ Việt Nam nhưng nếu chúng ta cứ nhai đi nhai lại mãi thì cũng nhàm chán. Do vậy Trần Dần phải cách tân”. Cũng đồng quan điểm, nhà thơ Lê Đạt, một người nổi tiếng với những cách tân trong thi ca nhận xét: “Trần Dần là trưởng môn phái của thơ cách tân thế hệ chúng tôi, anh ấy rất quyết liệt, bận tâm với việc đổi mới thơ. Nhưng cái nhược điểm của anh là hơi cứng nhắc, hơi ý chí chủ nghĩa. Tôi vẫn coi thơ Trần Dần là một bản giao hưởng của lý trí”. Còn theo tác giả bài viết này, cùng với những bước phát triển, đổi mới của thi ca Việt Nam sau giai đoạn thơ Tiền chiến, có thể khẳng định nhà thơ Trần Dần là nhà cách tân vĩ đại nhất của thơ đương đại Việt Nam trong mấy thập niên cuối của thế kỷ 20. Ông được coi là người đã có công đầu trong việc “chôn” thơ tiền chiến và cả thứ thơ bắt chước thơ tiền chiến 1930-1945, để sáng tạo, để mở ra một thời đại mới cho thi ca đúng như lời tâm sự của ông: “ Trung thực một lòng cho đổi mới văn học. Phải “chôn” văn học tiền chiến (Tự lực văn đoàn, Thơ mới…) vào lịch sử. Có như vậy mới mở ra được một thời đại văn học thực sự mới. Làm thơ là làm con chữ. Con chữ nó đẻ ra nghĩa, sẽ được nhiều nghĩa. Cái biết rồi là nghĩa, cái chưa biết là chữ. Nếu làm thơ mà làm nghĩa, rồi mới mượn chữ để diễn đạt nghĩa thì nghĩa sẽ hẹp. Cái chưa biết mới là cái thăm thẳm, cái chưa biết mới là cái mới...”. ( Nguyễn Việt Chiến )

Nhà thơ Quang Huy: Từ hư vô đến nỗi niềm Thị Nở


Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã nói tới cái khó của thể thơ lục bát. Xuân Diệu thậm chí còn tiết lộ ông rất "sợ" thơ lục bát, rất ít viết lục bát, vì sợ thất bại. Trong quan niệm của ông, đây là loại thơ dễ làm nhưng khó hay, phải làm sao để nó "giản dị, thanh thoát và không tầm thường dung tục".



Quang Huy cũng có chung nhận định như vậy, mặc dù điều ấy không ngăn trở việc anh năng dùng thể thơ này. Trong thi đàn, anh được xem là người viết lục bát vững tay nghề. Bình thường anh viết ậm ạch nhưng riêng với thể thơ lục bát, anh như được thoát xác, thăng hoa. Đa phần các bài của anh đều có hình ảnh "bắt mắt", âm điệu xuôi tai. Nó có thể chinh phục người đọc ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên. Tuy nhiên, về lâu về dài, mỗi bài thơ cần như một con sông, nước vẫn êm đềm chảy trôi song phải có phù sa lắng lại. Như với trường hợp các bài "Hư vô", "Nỗi niềm Thị Nở", theo tôi, đây là hai bài vào loại đặc sắc của Quang Huy, cũng là đặc sắc của thi ca đương đại Việt Nam. Nó hoàn toàn đủ để chứng minh sức lay cảm ở thể loại thơ lục bát của anh.

"Hư vô" là bài thơ đẹp một cách trang nhã, ý tứ thâm trầm sâu sắc, thể hiện ở tác giả sự kinh lịch việc đời và cả kinh nghiệm việc… thơ: "Cái gì cũng có một thời/ Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban/ Cái gì rồi cũng tiêu tan/ Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ/ Cái gì rồi cũng hư vô/ Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi/ Cái gì rồi cũng rụng rơi/ Quả trên vườn Cấm, hoa nơi Địa - đàng/ Chỉ còn mãi với thời gian/ Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ…". Thông điệp của bài thơ khá rõ ràng: Mọi cái thảy rồi cũng qua, chẳng có gì là vĩnh cửu, từ quyền lực tới đức tin của con người. Chỉ tình yêu là đáng tôn thờ, là còn mãi. Vậy mà con người vẫn luôn làm khổ nhau. Máu vẫn không ngừng đổ và nỗi oan khuất thì muôn đời vẫn chất chồng xương trắng… Không chỉ sâu sắc trong ngẫm ngợi sự thế, Quang Huy còn chặt chẽ trong chọn lựa chi tiết, hình ảnh. Chỉ tiếc là hai câu kết chưa thực tương xứng với vấn đề mà tác giả đặt ra. Gì chứ "Gắng ngồi viết cạn bài thơ/ Bài thơ liệu có hư vô như mình?", kết thế là hơi gượng. Một khi nội dung chính của bài thơ nói tới những cái lớn lao như thời thế, kiếp người, việc đem chuyện… làm thơ vào đây đã ít nhiều làm giảm cấp độ cảm xúc của bài thơ (PHẠM KHẢI )

Nhà văn, nhà báo Phan Quang: Thương nhớ vẫn còn

Nhà văn Phan Quang tiếp tôi trong gian phòng đầy sách, những cuốn sách quý hiếm được ông sưu tập trong suốt cả một đời làm nghề. Trong số đó có nhiều cuốn còn lưu lại bút tích của những người bạn văn một thời vang bóng như Trần Văn Giàu, Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Văn Bổng...Dường như, ở tuổi "xưa nay hiếm", những kỷ vật này đối với ông lại có ý nghĩa hơn bao giờ hết.


Tôi đồ rằng, những nét chữ, những cuốn sách kỷ niệm của bạn bè một thuở là những ký ức đẹp kéo ông trở về với quá khứ, cái thời ông mới bước chân vào nghề báo, nghề văn, đến lúc làm "quan to" và nay, khi ông nghỉ hưu đã bảy, tám năm có lẻ. Bởi vậy, dù đã ở tuổi 83 nhưng chưa một ngày nào ông ngừng viết, ngừng suy nghĩ. Dịch giả của bộ sách nổi tiếng "Nghìn lẻ một đêm" đang ráo riết đọc, sửa chữa từng trang bản thảo của cuốn sách "Thương nhớ vẫn còn" (tái bản) dày gần 600 trang viết về những người ông quý mến, về bè bạn, về những kỷ niệm của một quãng đời ông đã sống, đã cống hiến.

Nhà văn, nhà báo Phan Quang sinh ra và lớn lên tại Quảng Trị. Ông bắt đầu tham gia cách mạng từ năm 1945, rồi chuyển qua làm báo Cứu Quốc, báo Nhân Dân, là Tổng biên tập của tạp chí Người làm báo, chủ nhiệm tuần báo Nhà báo và Công luận. Rồi ông lần lượt nắm giữ các chức vụ quan trọng như: Thành viên Ban lãnh đạo Liên đoàn báo chí các nước ASEAN, Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội các khóa 8, 9 và 10, Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. (Trần Hoàng Thiên Kim )

Trang đầu  |  Trang trước  |  Trang tiếp  |  Trang cuối

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem