Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
Huỳnh Hữu Võ "Men đời còn xanh trên lá cây"  

"Tháng giêng gió thổi mù như khói Qua cầu giỡn bóng với sông sâu Nước đục hay lòng ta vẩn đục Từ nguồn xuôi hay lúc chảy qua cầu" Mỗi khi có ai đọc bốn câu thơ trên của Huỳnh Hữu Võ trong bài thơ "Tháng Giêng ngồi giỡn bóng mình", tôi lại liên tưởng đến Phan Rí thuộc tỉnh Bình Thuận. Nơi đây là quê hương của nắng và gió. "Gió" đã đi vào ca dao, hò vè của vùng đất miền duyên hải Cực Nam Trung Bộ: "Tháng Giêng rộng dài. Tháng Hai động tố. Tháng Ba nồm rộ..." Và, mỗi khi có dịp đi ngang qua Phan Rí tôi lại chợt nhớ đến bài thơ "Ngày trở lại Phan Rí" của Huỳnh Hữu Võ... (LÊ NGỌC TRÁC) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 17/1/2018
Nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương: Lợi danh như bóng mây chìm nổi...


Ngôi nhà của "quận chúa" nằm trong con hẻm Lê Văn Sỹ, Tp HCM gợi nhớ đến Hương Bình Thi Xã của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị ở Huế. Hằng ngày Thùy Khương trang rộng cửa chào đón nhiều tao nhân mặc khách. Họ đến vì sự ngưỡng mộ cũng có, vì tình yêu thơ cũng có và hơn hết họ đến vì tấm lòng của nữ sĩ út trong nhóm Quỳnh Dao - nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương.



Tri kỷ với cha

Hình ảnh người cha thân thương đã được nữ sĩ ghi lại qua cuốn "Hồi ức về cha tôi Ưng Bình Thúc Giạ Thị" đã xuất bản năm 1996 và tái bản năm 2002. Nữ sĩ đã học cách sống giản dị đời thường của cha (mà bà gọi cha mình vừa là Thầy vừa là Bạn), tuy là một vị quan, sau khi về hưu vẫn sống đời đạm bạc. Ngoài nuôi dạy con, cụ còn dạy làm thơ, dạy về cách đối nhân xử thế. Hình ảnh, nhân cách sống của cụ luôn ghi đậm trong tâm trí "quận chúa" Hỷ Khương: "Lời xưa di huấn thời son trẻ/ Con vẫn mang theo suốt cuộc đời". Đó là "Hãy sống vị tha và đừng vị kỷ".

Cụ khuyên dạy việc học của các con:

Chớ ỷ giàu sang, chớ thị quyền,
Học hành con phải gắng cho chuyên.
Hiếu trung hai chữ ngàn thu rạng,
Sẵn tấm gương soi đạo Thánh Hiền.

Nữ sĩ Mộng Tuyết cho rằng, Hỷ Khương có phước khi được cha mình xem như tri kỷ. Cách đây 45 năm - năm 1966, trong bài "Dòng Hương Giang nước vẫn trong", bà viết: "Trong lịch sử văn học của mỗi nước thường ghi những mối tình tri âm tri kỷ giữa hai người bạn, giữa cặp bạn đời, giữa hai nhà thơ, văn đồng điệu, mà hình như hiếm có mối tình thắm thiết tri âm, tri kỷ giữa hai cha con: một già đã ngoài 80, một trẻ chừng độ trăng tròn:

Cha con ta là đôi tri kỷ,
Chung bóng chung hình giữa nước non
( Nguyễn Tý )

NGUYỄN ĐÌNH THI NÓI VỀ NGUYỄN TRỌNG TẠO

Năm 1992, tháng 4, tại một khu tập thể của giới văn nghệ trên đường Hải Thượng Lãn Ông (TP Hồ Chí Minh), nghệ sĩ Nguyễn Đình Thi tiếp chuyện tôi (tức Nhật Hoa Khanh) bốn buổi.

Năm 2002, tháng 3 và tháng 4, tại Hà Nội, ông tiếp tôi tám buổi (chưa kể hai buổi “thêm”).

Trong tám buổi thuộc năm 2002, tác giả Vỡ bờ dành toàn bộ hai buổi thứ năm, thứ sáu để nói về thế hệ văn nghệ sĩ tham gia cách mạng từ thời chống Mỹ cứu nước.

Buổi thứ sáu, tác giả Vỡ bờ dành ra một giờ (từ 13g đến 14g) để nói về Nguyễn Trọng Tạo.

Buổi này diễn ra tại tầng hai (tức lầu một) Nhà hàng Bô Đê Ga (phố Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm), suốt từ 9 giờ sáng tới 18 giờ 30 phút một ngày đầu tháng 4-2002.

Giữa trưa, Nguyễn Đình Thi mời tôi vừa nghỉ tại chỗ, vừa ăn bít-tết từ 12g đến 13g.

* * *

Uống hết ly cà phê sữa nóng, Nguyễn Đình Thi nói:

─ Một trong những văn nghệ sĩ trẻ xuất hiện cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước mà tôi chú ý là Nguyễn Trọng Tạo.

Sinh năm 1947, người Diễn Châu, Nghệ An, dòng dõi một nhà nho nghèo không đỗ đạt cao, Tạo vào bộ đội năm 1969.

Năm ấy, Tạo chỉ mới học hết cấp 3 phổ thông (chương trình mười năm). Trong cuộc chống Mỹ cứu nước, Tạo sáng tác và phụ trách đội Tuyên truyền Văn hóa thuộc Quân khu 4, in thơ rải rác trên báo nhưng chưa có đóng góp gì quan trọng.

Mãi đến 1976, sau thống nhất đất nước khoảng một năm, anh lính văn nghệ quân đội 29 tuổi thông minh nhưng vẫn nặng giọng xứ Nghệ mới được cử tham gia Trại Viết văn thuộc Tổng cục Chính trị (Quân đội Nhân dân Việt Nam). Sau đó, anh lính văn nghệ lớp 10 được cử đi học Đại học Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, Khóa 1.

Lý lịch khoa học nói trên của Tạo do Hoàng Ngọc Hiến cung cấp cho tôi.

Coi Tạo như em út và quý mến Tạo, cho nên Hiến ghi chép cẩn thận lý lịch khoa học của Tạo. Hiến nói với tôi như thế.

Tôi biết Tạo chủ yếu do chính tôi tìm hiểu về Tạo, nhưng một phần nhờ Hoàng Cầm và Hoàng Ngọc Hiến.

Có lần, năm 2001, năm đầu tiên thế kỷ 21, Hoàng Cầm đọc thuộc lòng cho tôi nghe một số đoạn thơ của Tạo trong các tập thơ Đồng dao cho người lớn và Nương thân. Hoàng Cầm bảo tôi nên đọc hai tập thơ này. Tôi nói: đã đọc và đọc kỹ.
(NHẬT HOA KHANH )

THANH THẢO Với những câu thơ mềm mại mà mãnh liệt

Với thi phẩm “Hoa niên”, Tế Hanh nhận giải thưởng Tực lực văn đoàn từ năm 1939, trước khi Thanh Thảo ra đời 7 năm. Là một người có vị trí vững chắc trong nền thi ca Việt Nam , lúc sinh thời, nhà thơ Tế Hanh đã từng nói về những nhà thơ của quê hương ông như sau: “… Tôi chỉ là cái gạch nối giữa Bích Khê và Thanh Thảo…”. Với một lời nhận xét như thế, chúng ta trân trọng sự khiêm tốn của Tế Hanh. Và, thấy ông đánh giá cao về Thanh Thảo. Theo thời gian, chúng ta càng nhận thấy những đánh giá của Tế Hanh về Thanh Thảo càng chính xác.
Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ngay sau khi tốt nghiệp đại học ở Hà Nội, Thanh Thảo xung phong trở về miền Nam chiến đấu góp phần giải phóng quê hương. Ở chiến trường miền Nam , Thanh Thảo làm phóng viên, công tác tại đài phát thanh Giải Phóng. Sau ngày đất nước thống nhất, Thanh Thảo chuyên hoạt động trên lĩnh vực văn học nghệ thuật và báo chí.
Qua vài nét tiểu sử cuộc đời của Thanh Thảo, chúng ta thấy có một sự trùng hợp lý thú: Năm 1946, Bích Khê “Nhà thơ có những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam ” vĩnh biệt trần gian; Cũng là năm Thanh Thảo cất tiếng khóc đầu đời chào quê mẹ Quảng Ngãi thân thương.
Thanh Thảo xuất hiện trên bầu trời thi ca Việt Nam vào những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những trang thơ của Thanh Thảo viết từ chiến trường miền Nam khói lửa, ác liệt, nóng bỏng, dữ dội, trần trụi đã tạo được nét riêng
(LÊ NGỌC TRÁC )

CÁI TÂM CỦA NGƯỜI CẦM BÚT * Nguyễn Nguyên An

Một người đàn ông thấp đậm nét phong sương bước vào cái tuổi “xưa nay hiếm” vẫn còn hoạt bát, dồi dào sức sống, đó là Kiều Trung Phương. Ông tên thật là Trần Văn Thuận. Ông đến với thơ từ rất sớm, vào năm 1958. Ông là cột trụ của nhóm Bông Trang ở Huế, một thời cùng với Hoàng Hương Trang, Nghiêm Xuân Tứ, Sa Sương Trinh, Lệ Hoài Nhân…
Năm 1972 ông trình làng tập thơ đầu tay "Gỗ Đá Buồn" (được nhiều người đánh giá thành công trong thời ấy). Trước đó Kiều Trung Phương có thơ đăng ở tạp chí Thời Nay, Phổ Thông, Mã Thượng, Lành Mạnh, Tiểu thuyết thứ 7…
Sau nhiều năm im hơi lặng tiếng, ông đã cho ra mắt tập thơ "Tượng Nhớ" NXB Thuận Hóa - năm 2003. Ông gia nhập Hội Nhà văn Thừa Thiên - Huế năm 2005, và từ năm 2000 thơ ông tái xuất hiện trên nhiều tạp chí, trang web trong và ngoài nước, dần dà bút danh Kiều Trung Phương phục hiện và khẳng định mình. Trang thơ báo Giác Ngộ, Vô Ưu, Hương Từ Bi thường có thơ Kiều Trung Phương. Thơ ông càng ngày càng cô đọng, giọng văn thâm trầm vững chãi. Tôi bảo thơ ông đẫm mùi thiền? Ông cười đùa trả lời: "Không biết dòng thiền chảy vào mình lúc nào không rõ, những bài thơ mình viết ra tự nhiên đều ẩn hiện chất thiền trong đó, âu là kiếp trước mình có tu!"
Đến thăm ông trong khu vườn nhà thờ họ Trần (nguyên gốc làng An Cựu Tây, Hương Thủy, Thừa Thiên), một góc ăn, góc ở, một giường, một chiếu, một cô đơn, lẫn báo chí sách vở, bản thảo dở dang, xem cũng thoát tục! Ở tuổi bảy mốt Kiều Trung Phương vẫn trên đường tiếp tục vắt trí huệ cho những vẫn thơ sâu lắng.
(Nguyễn Nguyên An)

LÊ KHÁNH MAI: Đẹp, buồn và trong suốt như sương

Tôi quê ở Khánh Hoà, sinh ra ở Bình Định, được 7 tháng tuổi theo ba má đi tập kết ra miền Bắc và sống ở Hà Nội 21 năm đầu đời cho đến 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng thì trở về quê hương. Tôi được nuôi dưỡng và lớn lên trên mảnh đất thiêng liêng với những đặc trưng tiêu biểu của nền văn hoá Bắc bộ; gian khó vì chiến tranh; vất vả lo toan vì chế độ bao cấp. Sẽ còn mãi trong tôi hình ảnh một kinh thành cổ kính, thiên nhiên trữ tình, sâu lắng, con người trang nhã, thanh lịch. Với tôi, Hà Nội còn chất chứa bao kỷ niệm thanh xuân. Khi đang là sinh viên khoa Văn – Đại học Sư phạm Hà Nội , tôi đã viết những vần thơ đầu tay về thủ đô yếu dấu, tiếc rằng nó đã không đạt được như tôi mong muốn. Nhiều năm sau tôi mới viết về Hà Nội như là một cách gọi ký ức trở về:
“Hà Nội trong tiền kiếp của tôi

ám ảnh đêm dài cơn mơ chăn nệm

căn nhà tập thể chín mét vuông

tôi chen nhau với sách vở, bếp dầu, chai lọ

mẹ tôi mang gương mặt mùa đông goá bụa

thức dậy bốn giờ sáng, ra đi hun hút gió, đón chuyến xe đầu ngày

cà mèn cơm rau muống, đậu phụ bữa trưa công sở

tuổi thơ tôi côi cút co ro

quẩn quanh tem phiếu thực phẩm

còi báo động, báo yên cắt vụn ước mơ

dày vò kỷ niệm

bạn bè ơi phương trời lưu lạc

kem Bốn Mùa còn nhức tận chân răng

thời thiếu nữ qua nhanh như chưa từng thiếu nữ

giấu mơn mởn thịt da trong tấm áo xuềnh xoàng…”

(Hà Nội mùa đông đầu thế kỷ)

(LÊ KHÁNH MAI )

SEN LẠC MÙA TRONG NẮNG THU PHAI

Mỗi lần đọc bài thơ trên của Trần Hoàng Vy là mỗi lần trong tôi trào dâng xúc động. Đây là bài thơ Trần Hoàng Vy viết vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 58 của anh. Nội dung bài thơ như một tự khúc của Trần Hoàng Vy viết về một chặng đường đời anh đã trải qua với bao hệ lụy đầy đắng cay lẫn ngọt ngào hạnh phúc. Mà sao, chính tôi bắt gặp lại chính tâm trạng của mình...
Khi đọc thơ Trần Hoàng Vy, tôi lại nhớ về những năm 70 của thế kỷ trước, trên các báo, tạp chí văn nghệ xuất bản ở miền Nam, thỉnh thoảng, xuất hiện những bài thơ của các tác giả trẻ là những người con của miền núi Ấn sông Trà: Trần Hoàng Vy, Nguyễn Thánh Ngã, Nguyễn Tấn On... Chúng ta bắt gặp những vần thơ của Trần Hoàng Vy đậm đà hương sắc ca dao, một Nguyễn Thánh Ngã trữ tình, sâu sắc ngữ nghĩa. Với Nguyễn Tấn On là những rung động đầu đời đáng yêu của thời tuổi ngọc. Ngày ấy, qua thơ của các anh, tôi dự cảm: Trần Hoàng Vy, Nguyễn Thánh Ngã, Nguyễn Tấn On sẽ có những bước tiến dài trên con đường sáng tạo thi ca.
Quả đúng thật vậy, đến nay đã gần 40 năm, Trần Hoàng Vy, Nguyễn Thánh Ngã, Nguyễn Tấn On đã trở thành những tên tuổi thân thuộc đối với những người yêu thơ. Với Trần Hoàng Vy chúng tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ trong đời. Sau năm 1975, Trần Hoàng Vy với chúng tôi cùng ở tại một vùng đất đồi quanh năm đầy nắng gió của miền cực nam Trung bộ. Trần Hoàng Vy công tác trong ngành giáo dục. Tôi làm biên tập ở cơ quan báo chí. Ôi cái thời đầy gian khổ trong cuộc sống. Cái thời mà dường như cái nghèo, cái khổ chia đều cho mọi người. Trong vất vả, gian nan của cuộc sống thời ấy, Trần Hoàng Vy vẫn âm thầm làm thơ. Năm 1980, anh gởi về tòa soạn và tôi chọn đăng trên báo Thuận Hải bài thơ "Gởi em bài ca dao xưa" (ký tên thật là Trần Vĩnh). Thời bây giờ báo chúng tôi chuyên đăng thơ "cổ động", "Gởi em bài ca dao xưa" của Trần Hoàng Vy xuất hiện như một làn gió nhẹ. Lời thơ gần gũi như lời ru của người mẹ được nhiều người thuộc lòng(LÊ NGỌC TRÁC)

Bình-Nguyên Lộc-Một nhân sĩ trong làng văn

Năm 1969, tạp chí Khởi hành (ở Sài Gòn, số24, ra ngày 9-10-1969) hỏi Bình-nguyên Lộc: „Ông đang viết cuốn truyện thứ bao nhiêu của ông?“ Bình-nguyên Lộc đáp: „Tôi đang viết truyện thứ nhứt“.

Cuốn truyện thứ nhứt của Bình-nguyên Lộc, ông khởi thảo từ năm 1935, năm ông hăm mốt tuổi. Tức cuốn Hương gió Đồng Nai. Bản thảo thất lạc trong thời chiến tranh, trong những cuộc tản cư hối hả. Mấy chục năm sau, ông vừa thử viết lại vừa cố gắng tìm bản thảo xưa; ông rao tìm trên mặt báo, kêu gọi sự giúp đỡ của người hảo tâm tứ xứ. Cho tới khi qua đời ở Mỹ năm 1987, tức 52 năm sau, tác phẩm nọ vẫn chưa tìm lại được, vẫn chưa viết lại xong. Đồng Nai là một mối bận tâm suốt đời của Bình-nguyên Lộc. Dòng họ ông vẫn giữ được bản gia phả mười đời. Sinh sống ở đất Tân Uyên, một làng bên con sông Đồng Nai. Mười đời kể đến 1965 (lúc ông trả lời cuộc phỏng vấn của Ngu Í) thì đến đời cháu ông hiện nay đã thành ra mười hai đời, tức độ ba trăm năm; vậy tổ tiên ông thuộc lớp những di dân đầu tiên vào Nam lập nghiệp.

Đồng Nai là bận tâm của một dòng họ. Phù sa là bận tâm của cả miền Nam . Phù sa, tác phẩm thứ hai trong đời Bình-nguyên Lộc, khởi thảo năm 1942, nhằm vào công trình mở mang bờ cõi về phương nam, cho đến mãi tận mũi Cà Mau. Tác phẩm ấy, đến ngày cuối cùng của ông, 45 năm sau, viết đi viết lại mãi vẫn chưa xong.

Chúng ta vừa nói đến hai mối bận tâm, mối bận tâm thứ ba của Bình-nguyên Lộc bao trùm cả dân tộc. Cuốn Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam được xuất bản năm 1971, năm sau đã xuất hiện ngay cuốn Lột trần Việt ngữ. Cả hai đều là sách đồ sộ, đòi hỏi lắm công phu, không biết khởi thảo từ lúc nào, và công cuộc tìm tòi sưu khảo bắt đầu từ bao giờ. Dù sao phải là một thời gian đáng kể; ông từng than với Viên Linh trong cuộc phỏng vấn ở số báo Khởi hành nói trên : „Về ngôn ngữ học thì thật là bể đầu, vì tôi tự học, chớ không có vào trường ngôn ngữ nào hết, mà phải học ngót một trăm ngôn ngữ thì rất khổ“. Biến cố tháng 5-1975 làm cho công trình bị ngưng lại, dở dang. Năm 1985, sang đến Mỹ ông nghĩ ngay đến việc tiếp tục. Trong lá thư gửi chúng tôi viết ngày 16-1-1986, ông cho biết : „Số là quyển Nguồn gốc Mã Lai của tôi tuy đã dày 950 trang, nhưng thật ra thì chỉ là tome I mà thôi. Tome II quan trọng hơn, tôi đã viết xong tại Sài Gòn, nhưng mang bản thảo theo không được, thành thử giờ phải viết lại, mà viết thuộc lòng vì tài liệu cũng không mang theo được (...). Số là trong tome I tôi chỉ mới chứng minh bằng việc đo sọ và bằng trích các cổ thư. Tome II là sách đối chiếu ngôn ngữ, trong đó có nhiều khám phá mới lạ về ngôn ngữ học, mà Âu Mỹ đã làm nhưng không xong.” Đầu năm sau, ông qua đời: lại một bận tâm dày lâu nữa chưa toại nguyện.(V.P)

NGŨ HÀ MIÊN-Nhân chứng một thời "lửa loạn ly đốt vèo bao giấc mộng"

Vào những năm 60 của thể kỷ 20, ở miền núi Ấn sông Trà, có một người đã chiết tự tên của mình làm bút hiệu khi sáng tác thơ văn. Đó là Ngũ Hà Miên. Ông tên thật là Nguyễn Văn Hàm, sinh năm 1930 tại làng Thi Phổ, xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Cách "chiết tự" tên thật thành bút hiệu là nghệ thuật "mê tự"... Có lẽ, trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Văn Hàm – Ngũ Hà Miên là người thứ hai chiết tự tên mình thành bút danh, sau nhà văn Khái Hưng – Trần Khánh Giư (?).
Trong cuộc đời của mình, Ngũ Hà Miên hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Ông từng là giáo sư, giảng dạy ở các trường trung học và đại học ở miền Nam, ông còn tham gia hoạt động chính trị (Trước năm 1975, có thời ông là dân biểu quốc hội của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, ông là người đảm nhiệm nhiều chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh, phó ban tôn giáo thành phố Hồ Chí Minh...). Nhưng, trước sau Ngũ Hà Miên vẫn là một nhà thơ. Và, là một người nghiên cứu văn học. Trong cuộc đời viết sách, làm thơ, Ngũ Hà Miên đã xuất bản:
- Giảng luận chinh phụ ngâm (biên khảo – 1958)
- Việt Nam thi ca cận đại (biên khảo – 1962)
- 10 năm (thơ – 1963)
- Thời gian (tuyển tập – 1962)
- Bão loạn (truyện dài chưa xuất bản)
Hiện đang sống trong một đất nước thanh bình, chúng ta đọc lại những nhà thơ viết về chiến tranh, cũng như đọc thơ Ngũ Hà Miên, chúng ta mới thấy hết những đau khổ, mất mát của một thời đã qua. Và, càng yêu hòa bình. Phần lớn những bài thơ trong thi phẩm "Mười năm" của Ngũ Hà Miên là một bức tranh đầy đau khổ của quê hương bị chiến tranh tàn phá. Trong thơ của mình, Ngũ Hà Miên đã trở thành nhân chứng của một thời "... đá tan, rừng biển động / Lửa loạn ly đốt vèo bao giấc mộng".
"Mười năm" là khoảng thời gian ước lệ trong thơ của Ngũ Hà Miên khi nói về những tang thương, chết chóc của quê hương suốt một thời máu lửa...(LÊ NGỌC TRÁC)

Trang đầu  |  Trang trước  |  Trang tiếp  |  Trang cuối

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem