Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
NGUYỄN AN BÌNH những trang thơ của tình yêu  

Gần 50 năm đi vào con đường sáng tạo thơ ca, Nguyễn An Bình vẫn viết về quê hương và tình yêu. Thấm đẫm tình cảm, bình dị, sâu lắng là nét đặc trưng của thơ Nguyễn An Bình. "Thơ tình" là thi phẩm là thi phẩm thứ 8 của NGUYỄN AN BÌNH, vừa được NXB NHÂN ẢNH phát hành trên hệ thống toàn . Tiếp xúc với "Thơ tình" chúng ta bắt gặp những trang thơ của tình yêu lung linh sắc màu, những hoài niệm của một thời đáng yêu trong cuộc đời. "Thơ tình" Nguyễn An Bình nhiều cung bậc, tình cảm trải dài theo tuổi đời. Người đọc bắt gặp tâm sự của chính mình trong những câu thơ của anh...(LÊ NGỌC TRÁC) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 19/7/2018
NGÔ VĂN TUẤN :Chủ tịch xã làm thơ

Mỗi khi đọc tác phẩm mới của Ngô Văn Tuấn, tôi thường nhớ về cái thuở ban đầu đọc thơ của anh. Năm 1981, khi làm công tác biên tập ở báo Thuận Hải, tôi chọn đăng bài thơ “ Chiếc bật lửa khô dầu” của Tuấn Lan. Toàn bộ bài thơ nói lên tâm sự của một người con gái với người tình của mình đang làm nghĩa vụ quân sự ở biên giới xa xôi. Một giọng thơ dung dị, cuốn hút rung động lòng người. Từ chỗ yêu thích bài thơ, tôi cốù tìm hiểu về tác giả, để biết Tuấn Lan là ai


Thì ra, Tuấn Lan là bút danh của Ngô Văn Tuấn- Một người rất gần gũi, sống cùng với chúng tôi ở trên đỉnh gió Tân An ( nay là phường Tân An). Nhớ lại những năm đầu sau ngày giải phóng, Ngô Văn Tuấn, Trần Vĩnh và nhiều người khác, hàng ngày, buổi sáng làm việc ở Ủy ban xã, buổi chiều lên rẫy cuốc đất trồng khoai… Những năm tháng gian khổ ấy, Ngô Văn Tuấn, Trần Vĩnh bắt đầu làm thơ…

Ngô Văn Tuấn sinh năm 1957 ở một miền quê thuộc huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Mới ba tuổi đầu, Ngô Văn Tuấn đã sống đời di dân. Anh theo gia đình di dân vào sinh sống ở Tánh Linh, rồi sau này định cư ở Phước Bình- Tân An. Vượt qua những năm tháng tuổi thơ cơ cực, Anh từng làm Chủ tịch xã và hiện nay làm công tác quản lý của một cơ quan cấp thị xã. Chúng tôi thường gọi anh là Ngô Chủ Tịch. Lúc sinh thời, bác Châu Anh- Đỗ Đơn Chiếu có lần nói với chúng tôi về những cây bút trẻ ở phố biển La Gi: “ Làm chủ tịch xã mà làm thơ hay, thật hiếm và cũng thật thú vị. Ước gì các ông chủ tịch xã đều làm thơ, có lẽ cuộc sống sẽ vui nhiều…”

Trong thơ, Ngô Văn Tuấn thường viết về những miền quê mà anh từng sinh sống với tất cả hoài niệm, thương nhớ. Lời thơ dung dị đến tự nhiên được viết với tất cả sự rung động chân thực, được nhiều người yêu thích. Năm 1994, Ngô Văn Tuấn trở thành hội viên Hội Văn học- Nghêï thuật tỉnh Bình Thuận. Cũng trong năm này, Ngô Văn Tuấn xuất bản tập thơ “ Biển và Mẹ” và được trao giải A “ Văn nghệ Dục Thanh lần thứ I”. Trong khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước và những năm đầu thế kỷ 21, Ngô Văn Tuấn viết nhiều. Thơ của anh thường xuyên xuất hiện trên các báo Văn nghệ ở Trung ương và địa phương. Thời kỳ này, Ngô Văn Tuấn còn viết báo. Năm 1997, anh đoạt giải Nhất thơ về đề tài Bưu điện do Hội Văn học- Nghệ thuật tỉnh Bình Thuận tổ chức. Bên cạnh 08 tập thơ in chung, đến năm 2004, Nhà xuất bản Trẻ- T.p Hồ Chí Minh phát hành tập thơ “ Nợ” của Ngô Văn Tuấn. ( LÊ NGỌC TRÁC )

TRẦN MAI CHÂU làm thơ, dịch thơ và bàn về thơ

Nguyên quán Hà Nội, Trần Mai Châu sinh năm 1924 tại Sơn La, nơi thân sinh ông lên nhận nhiệm sở sau khi tốt nghiệp y sĩ. Trong những năm đi học, Trần Mai Châu bắt đầu làm thơ. Hơn 200 bài thơ hoà vào mạch thơ lãng mạn đương thời mà tác giả đã sẵn sàng quên đi không nuối tiếc, vẫn còn những vần thơ giữ lại cảm hứng và tình điệu tuổi trẻ, chẳng hạn bài Em đến mùa xanh được ghi lại nguyên văn dưới đây:

Em đến mùa xanh lạnh đã lâu

Trang thơ chưa đẹp giấc mơ đầu

Đêm hoàng lương ấy khôn chung mộng

Ba bốn năm trời lỗi hẹn nhau.



Ngàn thương em đến rồi sao

Vầng trán xuân nào băng tuyết

Ngàn thương thức tỉnh rồi sao

Sao bỗng chào thưa thân thiết.



Em ơi chuyện cũ vui buồn

Đừng có bao giờ kể lại

Mây vàng đã bỏ lầu son

Nước cũng qua cầu trôi mãi.



Sương xuống đầy song gió thổi

Trăng tà về sáng ngàn dâu

Có sáng đời anh tăm tối

Từ khi em bước chân vào?



Mỏi nhớ mòn thương chẳng trách nhau

Không dưng em đẹp đến u sầu

Hoàng lương tỉnh giấc thiên thu lạnh

Biền biệt mùa xanh đôi mắt nâu.

Bài thơ này được sáng tác năm 1944, vào lúc hậu kỳ Thơ Mới, cho nên tác giả cũng dự cảm một sự thay đổi nào đó cần thiết cho thơ ca. Như một run rủi của số phận, trong thời gian này, Trần Mai Châu làm quen với Trần Dần, Vũ Hoàng Địch và cả ba cùng hợp tác xuất bản một tờ báo văn học. Tập thơ Một mùa địa ngục (Une saison en enfer) của A. Rimbaud gợi cảm hứng cho họ đặt tên tờ báo là Dạ đài, phát hành đúng một tháng trước ngày Toàn quốc kháng chiến. Tờ báo mỏng chỉ có bảy trang, ghi rõ ở trang bìa:
(HUỲNH NHƯ PHƯƠNG)





NGUYỄN KHÔI Còn Tấc Lòng Vẫn Gửi Gắm Nơi Quê

Nguyễn Khôi sinh năm 1938, người Đình Bảng. Biết tiếng ông từ lâu, mãi đến những năm ông về hưu, chúng tôi mới gặp. Ông mời Đặng Tiến Huy và tôi về Đình Bảng nhân ngày hội làng: rằm tháng Ba, Âm lịch. Hôm ấy cả làng ông nhà nào cũng có cỗ, có khách. Vui lắm! Bà vợ Nguyễn Khôi tên là Hè, người Hải Phòng nhưng lớn lên ở xứ Thái, cho đến khi bà về hưu, vẫn xinh đẹp. Bà Hè làm đến Q.Vụ trưởng. Nguyễn Khôi cũng tương đương, ông làm Phó Vụ trưởng Vụ dân tộc Văn phòng Quốc hội. Người Đình Bảng, đất từng phát đế vương, có khác.

Nguyễn Khôi đã xuất bản nhiều đầu sách. Về biên soạn, ông có các tập: Cổ Pháp cố sự, Bắc Ninh thi thoại, Bàng gia vọng tộc, Các dân tộc Việt Nam- Cách dùng họ và đặt tên... Hiện ông đang viết tập Chuyện làng chuyện quê, chừng ba trăm trang, cũng về quê hương. Đó là Cổ Pháp cố sự tập IV.

Bắc Ninh thi thoại, tác giả điểm các cây bút văn chương Bắc Ninh xưa nay với cách đánh giá riêng, với nhãn quan học thuật không mòn sáo. Khi biên soạn Cổ Pháp cố sự, ông rất chú trọng kết cấu: Bài mở đầu là Tên làng, tiếp theo là những bài viết về sư Đinh Không (TK thứ VIII), sư Vạn Hạnh (TK: X - XI)... , kết thúc sách là là bài Cổng làng - mở đón. Ông tâm sự: “viết để hồn ta còn chút tĩnh mịch rêu phong cổ kính như thể thời gian bám chặt vào những bờ tường, mái ngói nhấp nhô;(DUY PHI )

Phác thảo chân dung ĐỖ HỒNG NGỌC

Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940(khai sinh 1943)tại Phan Thiết (quê gốc Hàm Tân, nay là thị xã LaGi), tỉnh Bình Thuận, là một bác sĩ Nhi khoa nổi tiếng nhưng rất đam mê sáng tác văn học nên anh còn là Hội viên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh.


Trước năm 1975 anh đã từng cộng tác với các báo, tạp chí Bách khoa, Ý thức, Tuổi ngọc, Tình thương...Sau ngày đất nước thống nhất, giống như những trí thức yêu nước khác, anh chọn Tổ quốc và ở lại Việt Nam tiếp tục đóng góp cho đất nước bằng nghề nghiệp chuyên môn của mình, đồng thời vẫn liên tiếp cho ra đời nhiều tác phẩm văn học có giá trị. Bài viết này chỉ xin được phác họa chân dung đa tài của Đỗ Hồng Ngọc - một người con Bình Thuận sống xa quê - dưới góc nhìn của một tác giả sáng tác văn học. Riêng lĩnh vực y học vốn là chuyên môn của anh thì xin dành cho những bậc thức giả và đồng nghiệp của anh vì người viết vốn là kẻ ngoại đạo.
Nhà nghèo, cha mất sớm, tản cư trong rừng, không có được những điều kiện thuận lợi như những bạn bè cùng trang lứa nên anh đi học trễ đến ba, bốn năm so với số tuổi theo quy định. Nhờ nghị lực vượt khó vươn lên và được sự dẫn dắt chân tình của học giả Nguyễn Hiến Lê(1912-1984) anh đã rút ngắn chương trình trung học được ba năm, đuổi kịp bạn bè để vào Sài Gòn học tiếp bậc đại học. Anh quyết định chọn nghề y - phần nào cũng do định hướng của học giả Nguyễn Hiến Lê, vì thế sau này khi viết lời giới thiệu cho tầp sách y học phổ thông đầu tay của anh, ông đã có nhận xét "...Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị...". ( ĐỖ QUANG VINH )

Nhà thơ Anh Ngọc: Những vui buồn cứ đòi được hát lên


Nhắc tới Anh Ngọc, nhiều bạn đọc thường nhớ ngay tới bài "Cây xấu hổ" trong chùm thơ đoạt giải nhì cuộc thi Báo Văn nghệ năm 1971-1972 của anh. Điều này kể cũng dễ hiểu: Đây là bài thơ có cấu tứ lạ, dựa trên đặc điểm của một loài cây vốn dĩ khá quen thuộc với người dân quê song lại rất hiếm khi được đưa vào thơ ca, và qua cách dẫn chuyện khéo léo, tác giả đã làm nổi bật sự hồn nhiên yêu đời của những chàng lính trẻ đang bám trụ tại một địa bàn khắc nghiệt, ở một thời điểm khốc liệt (bài thơ được tác giả viết tại đường 9, ngay trong "mùa hè đỏ lửa" năm 1972), từ đó góp phần tôn vinh một thế hệ ra trận và lưu lại hình ảnh đẹp về một loài cây biết giao cảm với con người:

Bờ đường 9 có lùm cây xấu hổ
Chiến sĩ đi qua ai cũng mỉm cười

Giữa một vùng lửa cháy bom rơi
Tất cả lộ nguyên hình trần trụi
Cây xấu hổ với màu xanh bối rối
Tự giấu mình trong lá khép lim dim

Chiến sĩ qua đây ai cũng bước rất êm
Khi bất chợt thoảng một bàn chân lạ
Cây vội vã nhắm nghìn con mắt lá
Nhựa dồn lên, cành khẽ ngả như chào

Đó là sự miêu tả vừa tinh tế vừa chính xác về phản xạ thường tình của loài cây xấu hổ (còn gọi là cây trinh nữ) trước những va chạm dù là rất nhẹ của "một bàn chân lạ". Đến đây, cây cỏ không còn là cây cỏ nữa mà đã mang hồn vía của con người: "Người qua rồi bóng dáng cứ theo sau/ Anh lính trẻ bỗng quay đầu tủm tỉm/ Cây đã hé những mắt tròn chúm chím/ Đang thập thò nghịch ngợm nhìn theo".

Từ cái nhìn "nghịch ngợm" của cây, đã mở ra trong tâm tư người lính cả một khoảng trời đầy tiếng reo ngân của sự liên tưởng: "Phút lạ lùng trời đất trong veo/ Anh nghe có tiếng reo thầm gặp gỡ/ Nhiều dáng điệu thoáng qua trong trí nhớ/ Rất thân quen mà chẳng gọi nên lời". Và thế là, để giữ riêng cho mình những cảm xúc mà loài cây nọ gợi lên, người lính đã hái một cành xấu hổ "ướp vào trong trang sổ của mình", lòng tự nhủ thầm: "Và chuyện này chỉ cây biết với anh".

( Phạm Khải)

Nhạc sĩ Phạm Tuyên và khúc ca “ngày đại thắng”

“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, một ca khúc mà cả ca từ và tựa đề chưa tới 60 chữ, nhưng vẫn gói ghém trong đó một tình cảm lớn lao, vĩ đại đối với Bác Hồ. Liên tục 36 năm qua, những lời ca ấy vẫn vang lên mỗi khi chúng ta nhớ Bác, nhớ tới ngày đại thắng mùa Xuân năm 1975.
“Trưa 30/4/1975, khi Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam Trần Lâm trăn trở với việc chọn một bài hát phát cùng tin chiến thắng, thì nhận được tác phẩm của tôi. Sau khi xem, ông reo lên “Trúng rồi” và ngay lập tức chỉ đạo cho dàn dựng, đến 16 giờ thì hoàn thành. Đó là bài hát được tập, dàn dựng và phát với tốc độ kỷ lục. Những người hát, đàn, dàn dựng và cả tôi, đều vừa hát, vừa nước mắt rơi.” - Nhạc sĩ Phạm Tuyên.
“Cuộc đời Phạm Tuyên là một pho tiểu thuyết bề bộn với rất nhiều cung bậc. Có thể tóm tắt bằng hai câu thơ xuất thần của Phạm Tiến Duật: “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay...”- Nhà thơ Trần Đăng Khoa.


" BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG": NỖI NIỀM CỦA NGƯỜI CON GÁI XA QUÊ

Cuối mùa xuân năm nay, nhân dịp sinh nhật lần thứ 35 của mình, Võ Thị Như Mai gửi đến những người yêu thơ thi phẩm " Bên kia tít tắp đại dương". Tập thơ do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản.
Võ Thị Như Mai nguyên quán ở làng Mỹ Chánh, Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt. Khi tốt nghiệp đại học, có một thời dạy học tại Châu Đức, tỉnh Bà Rịa. Hiện nay Võ Thị Như Mai sống ở miền Tây nước Úc và là giáo viên đang dạy học tại trường Dryandra.
" Bên kia Tít tắp đại dương" là tập thơ thứ hai của Võ Thị Như Mai, sau thi phẩm "Tản mạn thơ" được Nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành từ năm 2009.
Tập thơ gồm hơn 50 bài, mà phần lớn là những bài được Võ Thị Như Mai sáng tác khi ở phương trời miền Tây nước Úc, bên kia bờ đại dương tít tắp mù khơi. Người đọc bắt gặp những vần thơ với ngôn từ giản dị, trong sáng, chân thật và đầy cảm xúc. Với một tâm hồn nhạy cảm, Võ Thị Như Mai đã bắt những con chữ chạy theo cảm xúc của mình khi trong lòng chợt rung lên tha thiết trước những hình ảnh đầy ấn tượng. Võ Thị Như Mai viết về những vùng đất đã từng qua, từng sống, viết về tình yêu, về những hoài niệm một thời chưa xa về hình bóng quê nhà: Hải Lăng – Quảng Trị, một thời nghèo khó hay Đà Lạt ngàn hoa của một thời mộng mơ. Võ Thị Như Mai viết những câu thơ chứa chan tình yêu với niềm tin hạnh phúc:
"là em, là em, là em
là em nồng nàn, em tha thiết
là em cài nụ hồng lên môi
dõi mắt trông biền biệt
ưu tư và lụy phiền

là em, là em thôi, rất hiền
có khi buồn cũng khóc
là em, là em gánh giấc mơ nặng nhọc
trên đôi chân nhẹ tênh
là em của lênh đênh
trong màu mắt anh có còn không, đắm đuối

em gói mùa xuân giấu vào hộp tuổi
xóa đi những vết nhăn
em hái tặng anh nụ hôn vĩnh hằng
đặt vào trong túi áo
để em nghe trái tim anh táo bạo
riết róng nhịp tình gần
..."
(Trích "là em")

Trong khoảnh khắc, người đọc bỗng cảm thấy cuộc sống điềm nhiên xanh, tràn đầy yêu thương trước những câu thơ của Võ Thị Như Mai:
(LÊ NGỌC TRÁC )

Trịnh Công Sơn hát "Nối vòng tay lớn" THANH HUYỀN (ghi)

Bài hát Nối vòng tay lớn ra đời ở miền Nam năm 1968 nhưng phải đến ngày 30/4/1975 mới được cả nước biết đến; trong cái ngày trọng đại này, tại Đài phát thanh Sài Gòn, chính tác giả bài hát- nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã có những lời bộc bạch chân thực - xúc động chào mừng ngày độc lập và thống nhất đất nước, rồi anh cất cao tiếng hát bài Nối vòng tay lớn… Đoạn băng sau đây đã ghi lại những giây phút này…


“Tôi, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em nghệ sĩ ở Miền Nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này cũng như những điều mơ ước (của) các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất (thì) hôm nay chúng ta đã đạt được những kết quả đó. Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng Miền Nam Việt Nam này hãy… và hợp tác chặt chẽ với Chánh phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam.
(…) Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này là đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước của chúng ta. Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ đến đây… với những thái độ hoà giải tốt đẹp. Các bạn không có lý do gì sợ hãi để mà ra đi cả. Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập.

Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước từ mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn thân hữu cũng như những người chưa quen với tôi ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Uỷ ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng Miền Nam Việt Nam này.
(THANH HUYỀN (ghi)


Trang đầu  |  Trang trước  |  Trang tiếp  |  Trang cuối

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem