Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
Nguyễn Thế Kỷ CÓ ĐIỀU NHƯ CHƯA NÓI VỚI SÔNG TRÀ  

những nhà thơ có phẩm chất, thường thể hiện bản sắc thơ mình đa chiều, đa dạng đề tài của cuộc sống. Nguyễn Thế Kỷ là một người như vậy, ông hít thở bầu khí quyển thi ca của thời đại, lấy đó làm nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho ngòi bút hiện thực lãng mạn của mình. Ông đã cố gắng vượt bậc tìm ra con đường thơ riêng cho mình, như nhà thơ Thanh Thảo đã nhận định rất đúng rằng: " ít nhất, ông đã mở cho mình một lối đi mới". Ở tuổi 88, ngày ngày ông vẫn ngồi bên trang giấy, như con tằm rút ruột nhả tơ, lặng lẽ dốc tâm huyết và trải nghiệm của mình ươm cho đời những tác phẩm giá trị. Với ông, thành công chính là sự bình dị của ngôn từ, và sự chân thành của cảm xúc, nên đọc thơ ông ai cũng thấy gần gủi mà không dễ dãi, mộc mạc mà không thô nhám. Sự thâm trầm, sâu sắc ẩn hiện đâu đó trong từng câu chữ... (NGUYỄN THÁNH NGÃ) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 21/7/2018
Nhà thơ Hoàng Trung Thông: Giữ lòng trong suốt đời- Phạm Khải


Nhà thơ Vũ Quần Phương, trong bài viết "Người vỡ đất trở về với đất" đã có một nhận xét càng ngẫm càng thấy đúng về đời thơ Hoàng Trung Thông: "Thơ anh mang những thuộc tính của đất: Chắc bền, bình dị và có sức nuôi người".



Nổi tiếng ngay từ bài thơ tốt nghiệp lớp văn hóa kháng chiến khóa 2 (năm 1948) khi mới 23 tuổi, với "Bài ca vỡ đất", Hoàng Trung Thông không những nhanh chóng tìm ra mảnh đất thi ca cần khai phá mà ông còn nhanh chóng tìm ra được một công cụ hỗ trợ thích hợp cho việc khai phá ấy: Đó là một kiểu thơ pha trộn nhiều kiểu thơ, từ tự do tới lục bát, rồi ngũ ngôn, rồi song thất lục bát…Tất cả đều mộc mạc như lời ăn tiếng nói thường ngày của người dân quê, để nói về một công việc cũng giản dị như bao công việc khác trên đời: khai khẩn đất hoang, tăng gia sản xuất. Có lẽ, trong thơ Việt Nam, hiếm bài thơ nào mà việc cuốc cày, gieo trồng cấy hái lại được nói tỉ mỉ, lặp đi lặp lại nhiều lần đến vậy: Khổ đầu đã thấy "cuốc" đất rồi, khổ thứ 5 vẫn "cuốc", khổ thứ 6 tiếp tục "cuốc", khổ thứ 7 vẫn còn "cuốc". Thậm chí, "cuốc" hăng đến mức… chệch cả vần: "Hát lên ta cuốc cho mau/ Nhanh tay ta cuốc ta đào đất lên". Và thật bất ngờ, chính ngay sau cú "cuốc chệch" ấy, nhà thơ đã làm bật lên được hai câu thơ xuất thần, với một ý thơ lóe sáng đáng nhớ nhất trong cả đời thơ của mình. Đó là những câu thơ hay bởi sức hàm chứa và mang tính khái quát cao:

Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

Thi ca Việt Nam có nhiều bài được đặt tựa đề bắt đầu bằng hai chữ "Bài ca…", nhưng không mấy bài thực sự trở thành "bài ca" như "Bài ca vỡ đất" của Hoàng Trung Thông (bởi nhạc tính của nó). Và vì là bài ca dành cho những người lao động nên nó mang giai điệu khỏe khoắn, xốc vác, yêu đời. Bài thơ mở đầu bằng một sự "tự giới thiệu" đầy phấn khích: "Chúng ta đoàn áo vải/ Sống cuộc đời rừng núi bấy nay/ Đồng xanh ta thiếu đất cày/ Nghe rừng lắm đất lên đây với rừng/ Tháng ngày ta góp sức chung/ Vun từng luống đất cuốc từng gốc cây".

Bài thơ khá dài, tường thuật một cuộc "lao động trường kỳ" nhưng người đọc không cảm thấy mệt vì đã được hỗ trợ bởi những phút… "nghỉ ngơi" hợp lý. Bài thơ có cách chuyển điệu rất nhịp nhàng. Các nhân vật trong bài có lúc rộn ý chí: "Hết khoai ta lại gieo vừng/ Không cho đất nghỉ không ngừng tay ta", lại có lúc khoan thai ngắm cảnh: "Suối chảy quanh ta/ Tiếng suối ngân nga/ Hòa theo gió núi"; có lúc cần cù, nhẫn nại: "Chúng ta một lớp người nghèo/ Giữa chiều nắng gió/ Đào cây cuốc cỏ/ Tỉa đỗ trồng khoai", lại có lúc dào lên phấn chấn: "Ngày còn dài/ Còn dai sức trẻ/ Cuốc càng khỏe/ Càng dễ cày sâu/ Cuốc lên ta cuốc cho mau/ Nhanh tay ta cuốc ta đào đất lên( PHẠM KHẢI )

Nhà thơ Thanh Tịnh: Một đoạn tơ trời lững thững bay

Khi Thạch Lam khen tác phẩm của Thanh Tịnh "Truyện ngắn nào hay đều có chất thơ, và bài thơ nào hay đều có chất truyện", tôi đồ chừng ông muốn nhắc tới hai thi phẩm "Rồi một hôm" và "Mòn mỏi" - một bài từng đoạt giải nhất cuộc thi thơ của Hà Nội báo năm 1936, và một bài đã được đưa vào bộ hợp tuyển "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh - Hoài Chân. Đây là hai bài vẫn thường được nhắc tới trong mảng thơ tiền chiến của Thanh Tịnh, cũng nằm trong số hiếm hoi những thi phẩm của Thanh Tịnh còn ngoi ngụp đến được với chúng ta ngày hôm nay.


Cả hai bài đều có chung đặc điểm là thơ phóng tác. Bài "Mòn mỏi" được phóng tác theo truyện "Barbe bleue" của nhà văn Pháp Charles Perrault. Bài "Rồi một hôm" được phóng tác theo bài "Nếu một ngày" của nhà thơ Bỉ viết tiếng Pháp Maurice Maeterlinck (giải thưởng Nobel văn học 1911).

Tôi chưa được đọc truyện của Perrault để đối chiếu xem khả năng phóng tác của Thanh Tịnh đến đâu, song tôi tin vào nhận định của các tác giả "Thi nhân Việt Nam", rằng "Thanh Tịnh đã tạo ra một không khí rất Á Đông". Cái không khí ấy nó không chỉ được thể hiện ở các hình ảnh cây liễu, con chim nhạn - những chất liệu đậm chất Á Đông, mà nó còn thể hiện ở việc tác giả cho xen vào phần thơ thất ngôn những cặp câu lục bát - là thể thơ chỉ riêng Việt Nam mới có. Bài thơ không chỉ hay ở cái tứ, với sự bất ngờ của hình ảnh chiếc yên ngựa vắng người trong câu kết, mà còn quyến rũ người đọc bởi giọng thơ da diết, chìm ngập nỗi buồn của người thiếu phụ mòn mỏi đợi chờ bóng tình quân.

Bài "Rồi một hôm" cũng được triển khai trên cái sườn hỏi - đáp, nhưng cái khác ở đây là lời mẹ và con (chứ không phải chị và em như trong bài "Mòn mỏi", cũng như trong bài "Nếu một ngày" của Maeterlinck). Gần đây, tôi có được đọc bài "Nếu một ngày" qua bản dịch của Nguyễn Viết Thắng và nhận thấy ở bản phóng tác của Thanh Tịnh có những điểm khác sau đây: Ngoài việc chuyển sự hỏi đáp từ chị - em sang mẹ - con như đã nói ở trên, Thanh Tịnh đã lược đi một khổ. Đó là khổ thứ hai. Trong bài thơ của Maeterlinck, khổ thơ này hơi tối nghĩa và là sự thêm thắt không cần thiết cho khổ thứ nhất. Việc lược đi khổ thơ này chứng tỏ Thanh Tịnh biên tập rất chắc tay. Còn về cơ bản thì khổ mở đầu bài thơ của Thanh Tịnh:

Rồi một hôm nếu về cha hỏi
Mẹ ở đâu? Con biết nói sao?
- Con hãy bảo trông cha mòn mỏi
Mẹ từ trần sau mấy tháng đau


không khác gì mấy so với khổ đầu của Maeterlinck:

Nếu một ngày người ấy quay trở lại
Thì em biết nói gì với người ta?
- Hãy nói rằng chị đã chờ mòn mỏi
Đến một hôm đã kiệt sức trông chờ


Khổ thứ hai trong bài thơ của Thanh Tịnh:

Nếu cha hỏi sao nhà vắng vẻ
Mẹ khuyên con hãy trả lời sao?
- Con hãy chỉ bình hương khói rẽ
Và trên giường chỉ đĩa dầu hao (PHẠM KHẢI)


MIÊN THẨM TÙNG THIỆN VƯƠNG- NHẤT ĐẠI THI ÔNG

… Kế thừa sự nghiệp của các Chúa Nguyễn, năm 1780, Nguyễn Phúc Ánh xưng Vương ở Gia Định. Trải qua 25 năm, kiên trì, gian nan, giữa cái sống và cái chết, Nguyễn Phúc Ánh tranh chấp, chống nhau với nhà Tây Sơn, khôi phục nhà Nguyễn. Đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh thống nhất đất nước, lên ngôi, xưng Đế, đặt Quốc hiệu là Việt Nam vào năm 1802, mở ra triều đại Gia Long. Gia Long trị vì đất nước được 18 năm. Năm 1820 truyền ngôi cho Minh Mạng. Triều đại Minh Mạng kéo dài 20 năm (1820 – 1840) , Vua Minh Mạng mất vào năm 1840. Chắc hẵn, thời kỳ Minh Mạng làm Vua là thời kỳ cực thịnh của Triều Nguyễn và của đất nước Việt Nam (Minh Mạng đặt Quốc hiệu là Đại Nam). Năm 1841, Miên Tông lên ngôi đặt niên hiệu là Thiệu Trị, trị vì đất nước được 07 năm, mất vào năm 1847. Hoàng Thái tử thứ 2 là Hồng Nhậm lên ngôi đặt niên hiệu là Tự Đức, làm Vua được 36 năm, mất vào năm 1883.
Thời kỳ Thiệu Trị và Tự Đức, vị thế của Triều Nguyễn và đất nước không còn được như thời Minh Mạng. Trong triều đình và hoàng tộc không còn có sự đoàn kết, thống nhất như trước. Đất nước loạn lạc, thiên tai, xảy ra nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, nhân dân đói khổ khắp nơi. Năm 1847, Pháp đã nổ súng đánh vào Đà Nẳng, khởi đầu xâm lăng nước ta. Thời kỳ Tự Đức hơn một nửa đất nước đã rơi vào quân Pháp xâm lược.
Miên Thẩm Tùng Thiện Vương sinh ra vào thời Gia Long, sống qua các triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Thời kỳ mà đất nước và triều đình nhà Nguyễn xảy ra nhiều sự kiện nổi bật, nhiều biến cố lịch sử dồn dập. Thân là hoàng tôn, hoàng tử, hoàng thúc, nhưng suốt cuộc đời mình, Miên Thẩm Tùng Thiện Vương không màng đến lợi danh, không dính dáng đến vòng xoáy chính trị của triều đình. Có lẽ nhờ vậy, mà Miên Thẩm Tùng Thiện Vương thoát khỏi những tranh chấp quyền lực của hoàng tộc và triều đình (sự kiện Hồng Bảo và Hồng Nhậm năm 1847). Ông giữ được tính mạng mình trong cuộc đảo chánh của Ưng Đạo (Đinh Đạo) và Đoàn Trưng vào năm Tự Đức thứ 19 - 1866).
Miên Thẩm Tùng Thiện Vương là một người có đạo đức cao, tri thức uyên bác, có uy tín lớn đối với triều đình và xã hội. Sinh thời, ông đến với mọi người, mọi tầng lớp xã hội bằng tấm lòng chân thật, rộng mở, không phân biệt địa vị quyền thế, quý phái hay nghèo nàn, bình dân.(LÊ NGỌC TRÁC )

Nhà thơ Yến Lan: Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng...

Cùng với Quách Tấn, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, Yến Lan là một trong bốn thành viên của nhóm "Bàn thành tứ hữu" (bốn người bạn thơ đất Bình Định). Nhóm thơ này nổi tiếng kỹ lưỡng về sự đẽo câu, gọt chữ.


Trong đó Yến Lan - với một sự tỉ mẩn chẳng kém cạnh ai - ở giai đoạn trước Cách mạng cũng đã ít nhiều gây được ấn tượng cùng bạn đọc bởi những câu thơ chạm khắc công phu: "Sầu tam giác buồm cô về lặng nghỉ/ Nhịp hoãn hòa đến vỗ đảo xa khơi" (bài "Xa xanh"); "Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh/ Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng" (bài "Bến My Lăng")…

ó là những câu thơ cùng khơi gợi được cái sầu mênh mang sóng nước luôn ăm ắp trong hồn tác giả, và là những câu cô đúc đến độ khó có thể… cô đúc hơn.

Nói vậy song cái gì cũng có hai mặt. Bởi quá cầu kỳ trong việc dùng chữ (nhất là lại lạm dụng Hán ngữ) nên ở bài "Bình Định 1935" - một bài được xem là chồng chất những câu thơ khó hiểu của Yến Lan, ý thơ do bị… rán kỹ quá nên có chỗ hoặc là bị… cháy, hoặc là… khô kiệt.

Có những câu bản thân tác giả phải nhiều lần giải thích với người đọc, mà càng giải thích càng… rối. Như trong bức thư Yến Lan gửi ông Khổng Đức Đinh Tấn Dung ngày 5/4/1988, hai câu thơ "Ôi Bình Định hương phong trường cách biệt/ Những bâng khuâng trong đức hạnh sương hoa" được ông giải thích như sau: "Ý chung muốn nói: Cái phố nghèo nàn này, thế nhưng là mảnh đất đầy phong vị ngọt ngào cao thượng, nó (trường vượt thời gian) bị phong kín thành cõi cô liêu, xa cách với mọi nơi khác, nhưng cái vòng vây phong kín ấy đầy hương hoa, đầy tâm tư hoạt bát…(trường ở đây như nông trường, lâm trường)".

Thật là một cách giải thích lòng vòng, đến độ người được giải thích chẳng những không nghe lời tác giả mà sau đó lại có cách giải thích riêng của mình, rằng "Hương phong trường cách biệt" là "phong cảnh của trường thi hương Bình Định thời xa xưa giờ có còn chăng chỉ là sương hoa đức hạnh với nỗi niềm bâng khuâng nhớ lại những gì đã mất". Đây quả là một trường hợp hiếm gặp: Đến độc giả cũng muốn hiểu ý câu thơ khác với tinh thần của tác giả, chỉ bởi câu thơ quá… "kín nghĩa".
Hẳn là nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhớ tới những câu thơ kiểu này của Yến Lan khi viết trong "Thi nhân Việt Nam": "Xem thơ Yến Lan, tôi mơ màng như đi trong mây mù. Khi đầu thì cũng hay hay, nhưng dần lâu cơ hồ ngạt thở".

Vẫn biết, thơ hay không nhất thiết phải bài nào, câu nào cũng ý tứ rõ ràng, song nhìn chung, thơ Yến Lan thời kỳ trước Cách mạng hiếm bài đi vào tâm trí bạn đọc chính bởi tác giả quá nệ vào kỹ thuật, "già nhân tạo" mà "át thiên chân". Ông quá chú trọng tới sự chạm khắc, tỉa tót trong câu mà ít để ý tới mạch chung toàn bài (là điều mà cả Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên đều không dám buông lơi). (Phạm Khải)


TRẦN NGỌC HƯỞNG "Đậm đà hương sắc miền châu thổ Cửu Long Giang"

Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tôi đã đọc được thơ của Trần Ngọc Hưởng trên các báo, tạp chí văn học của miền Nam. Thế rồi, mãi đến 50 năm sau, tôi mới có dịp đọc được nhiều thơ của Trần Ngọc Hưởng. Những bài thơ của một tâm hồn đôn hậu, đầy ắp tình cảm vẫn còn nguyên trinh sự yêu mến trong tôi như thưở ban đầu ngày xưa đã từng đọc thơ anh.
Phần lớn thơ của Trần Ngọc Hưởng viết về vùng trời, sông nước miền châu thổ Cửu Long Giang, tình đất tình người của các tỉnh miền Tây Nam Bộ như chiếc nôi đã tạo nguồn cảm hứng trong thơ cho Trần Ngọc Hưởng. Qua thơ Trần Ngọc Hưởng, chúng ta được sống với sông nước Cửu Long Giang mênh mông, những cánh đồng xanh ngát tận chân trời. Màu xanh mướt tóc dừa nghiêng trong gió, màu khói đốt đồng thơm mùi rơm rạ phù sa châu thổ trong thời điểm giao mùa của đất phương Nam:
"Ôi Cửu Long Giang chín miệng Rồng
Ra khơi táp sóng nhớ nguồn sông
Chảy luồn máu đất trong dòng nước
Sông nhả phù sa lấp Biển Đông

Chia nhánh Tiền Giang, nhánh Hậu Giang
Đôi dòng huyết mạch của Miền Nam
Máu tim cuộn chảy ơi trìu mến
Khói sóng hòa hơi thở xóm làng

Mỏi cánh cò bay thẳng cánh đồng
Cột chèo soi bóng thấu lòng sông
Lưới khuya chụp sóng từng con nước
Chở nặng xuồng khua nhịp lớn ròng

Tóc mướt dừa nghiêng dòng Cửa Tiểu
Nhà chòi khách đợi chuyến đò ngang
Bên sông Cửa Đại phà hơi sóng
Tao tác gà trưa gáy muộn màng

Trôi giạt Ba Lai sông nước cũ
Tối rồi về núi cánh chim bay
Lửa chài hiu hắt đêm thao thức
Qua cửa Hàm Luông mặt nước đầy

Khói bếp bay hoài trên mái lá
Cổ Chiên sóng bạc vỗ hồn ta
Tung cao diều giấy đùa trong gió
Cô gái Cung Hầu cất giọng ca

Bùn đen điểm trắng bông bần rụng
Mây cuốn buồm xuôi cửa Định An
Trời rộng Trần Đề in đáy nước
Bến nào tách nhẹ mái chèo sang

Mây cao cuồn cuộn bông gòn trắng
Ba Thắt luân lưu máu một dòng
Cuống rún khôn lìa lòng đất mẹ
Dạt dào huyết mạch chín dòng sông".

(Huyết mạch miền Nam - Thơ Trần Ngọc Hưởng)
Thơ của Trần Ngọc Hưởng còn gợi cho chúng ta nhớ về một thửa "mở cõi" của tiền nhân:
(LÊ NGỌC TRÁC)

Nhà thơ Vũ Cao: Sừng sững bên trời một Núi Đôi

Ngoài làm thơ, Vũ Cao còn viết truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết. Cuốn "Tuyển tập Vũ Cao" do NXB Hà Nội ấn hành năm 2002, phần văn xuôi của ông dày gấp 4 lần phần thơ. Vậy nhưng, đã nói đến Vũ Cao là người ta nói đến thơ; người ta gọi Vũ Cao là nhà thơ.


Kể cũng dễ hiểu: Ở lĩnh vực này, ông đã để lại cho đời một thi phẩm có sức sống vượt thời gian. Năm 2000, nhân "Giao thừa thiên niên kỷ", nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình đã làm cuộc phỏng vấn một số nhà thơ quân đội: Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Lê Thành Nghị, Vương Trọng, Hồng Thanh Quang, Nguyễn Hồng Hà. Câu hỏi đặt ra là: Nếu chọn 5 bài thơ hay nhất viết về anh bộ đội Cụ Hồ để mang vào thế kỷ XXI thì các nhà thơ sẽ chọn những bài nào? Kết quả: Gần 30% người được hỏi cho biết, một trong 5 bài họ chọn là bài "Núi Đôi" của Vũ Cao; gần một nửa số người còn lại nói nếu cho họ chọn nhiều hơn con số 5 một chút, họ cũng sẽ chọn "Núi Đôi". Với các nhà thơ chuyên nghiệp thì vậy, còn với đông đảo bạn đọc, có thể nói không ngoa rằng, "Núi Đôi" luôn nằm trong số những bài được họ chép sổ tay nhiều nhất. Các tuyển tập thơ tình được soạn từ nhiều chục năm nay cũng rất hiếm khi vắng cái bóng dáng lừng lững đầy ngùi ngẫm của… "Núi Đôi".

Thật ra, có đọc toàn bộ mảng thơ của Vũ Cao, ta mới thấy ông mang tư chất của một nhà văn nhiều hơn là một nhà thơ. Và "Núi Đôi" chính là một hiện tượng phá cách đột xuất, rất độc đáo của ông. Tuyệt đại đa số các bài thơ của Vũ Cao đều là thơ kể chuyện, có tả cảnh, tả việc rõ ràng. Hồi còn trẻ ông từng viết: "Cách đây mười năm, tôi có lần qua hang Cốc Xá/ Những xác giặc nằm bên nhau nghiêng ngả/ Râu tóc bơ phờ dưới những lùm cây/ Những khẩu súng duỗi nòng bên những cánh tay/ Những con mắt nhìn lên khủng khiếp" (bài "Cốc Xá"), thì khi có tuổi rồi, ông vẫn viết: "Nhiều lần tôi thấy bên công viên/ Mấy người đàn bà nằm/ Chân thõng gầm ghế đá/ Mắt nhắm nghiền/ Tóc xõa/ Những người đàn bà đói nghèo đi kiếm ăn/ Áo quần đẫm sương/ Thân phận vật vờ/ Đã bao đêm không biết nằm đâu/ Ghế đá lùm cây tạm ngủ" (bài "Nhiều lần tôi thấy"). Đó là những đoạn gọi là thơ nhưng thực chất đã phải làm thay nhiệm vụ phản ánh hiện thực của các thể tài văn xuôi. Và sự thực, chỉ cần ta bỏ đi chút vần nối ở cuối mỗi câu, hẳn người đọc sẽ thấy nó như thể những đoạn, những mảng… cắt ra từ một truyện ngắn
( Phạm Khải)

Trịnh Công Sơn, thiên tài và định mệnh *Tân Linh

"Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi/ Rồi một mai tôi về làm cát bụi" (Cát bụi)..."Thí dụ bây giờ tôi phải ra đi/ Tôi phải ra đi/ tay chia ly cùng đời sống... (Rơi lệ ru người). Rồi "Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời" và "Mệt quá thân ta này/ nằm xuống với đất muôn đời"... Đã rất lâu, Trịnh nhiều lần "nói dại" vậy. Và rồi đúng ngày nói dối năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới, Sơn đi thật, anh nằm xuống với đất muôn đời để lại khoảng mênh mông nỗi nhớ của người đời...


Trịnh Công Sơn, thiên tài và định mệnh

Năm ấy, một lần vào đầu thập niên 90 TK XX, lúc tôi đến thăm nhạc sĩ Văn Cao tại ngôi nhà ông đương ở, số 108 Yết Kiêu, Hà Nội, tình cờ gặp Trịnh Công Sơn ở đó. Hai nhạc sĩ nổi tiếng ngồi với nhau và còn có hai người bạn nữa, rượu Vân trong những cái chén nhỏ thơm lừng khiến sáng đông ấy hình như ấm áp hơn.

Họ nói những câu chuyện về nghệ thuật, về văn chương, hội họa rồi cuối cùng là âm nhạc. Vâng, âm nhạc đã đưa Trịnh đi tìm Văn Cao. Nhạc sĩ Văn Cao bảo: "Bạn tôi là nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từng nhận xét: "Sơn viết nhạc dễ như lấy chữ trong túi mình ra vậy. Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển, theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra".

Văn Cao kể rằng sau năm 1975 một năm, hai người mới gặp nhau nhưng từ trước đó, ông và Trịnh Công Sơn ngỡ đã là bạn của nhau từ bao giờ mặc dù Sơn kém ông 16 năm... Trịnh Công Sơn bảo: Bên Mỹ, ở trung tâm NASA, người ta cử bản “Thiên Thai” của Văn Cao trước khi lên vũ trụ… Hai nhạc sĩ tài năng này có điểm gì đó giống nhau. Có lẽ là về hình thể bên ngoài: người gầy thanh thoát, ngón tay dài trông rất tài hoa...

Vâng! Tài hoa vì cả hai đều viết nên những bản nhạc nổi tiếng, lại làm thơ cũng thật hay và vẽ thì thật đẹp. Thơ Trịnh là ca từ các bài hát của anh. Tôi nhớ GS Hoàng Ngọc Hiến có lần đã nói rằng bài hát "Đêm thấy ta là thác đổ" của Trịnh có ca từ là "một bài thơ tình có thể xếp vào hàng hay nhất thế kỷ". Ngày xuân bước chân người rất nhẹ/ Mùa xuân đã qua bao giờ/ Nhiều đêm thấy ta là thác đổ/ Tỉnh ra có khi còn nghe...

Lúc Trịnh rời nhà Văn Cao, người nhạc sĩ già ngồi riêng tiếp chúng tôi, ông bảo: Nếu được chọn ba tên tuổi trong làng nhạc Việt Nam thế kỷ này, tôi sẽ đề cử ba người, trong số ấy có Sơn.

- Bác có thể cho biết hai người còn lại?

- Nói thì bảo là không khiêm tốn nhưng vừa rồi, thi làm quốc ca, thì mười bảy tác giả vào chung khảo kéo đến nhà tôi bảo rằng: Ông mới là "tác thật" của Quốc ca, còn chúng tôi đều là "tác giả" sất!

Văn Cao cười và tôi biết ý ông đã tự đề cử mình. Tất nhiên với ông còn những tuyệt phẩm khác… Còn người thứ ba?

Đó cũng là một người bạn tôi. Ông ấy đã có một quá khứ âm nhạc rất vẻ vang mà
(Tân Linh)

Nhà thơ Phạm Hầu Hỡi ôi! người cũng là du khách...


Nhớ những buổi trưa hồi ấy, nghỉ lại ở cơ quan (NXB Hội Nhà văn - 65 Nguyễn Du), tôi hay trò chuyện với nhà thơ Tế Hanh. Nhà thơ lúc này mắt đã kém lắm, chỉ có khả năng đi bộ trên quãng đường quen thuộc từ nhà ông bên phố Nguyễn Thượng Hiền sang phố Nguyễn Du chừng vài trăm mét. Nhưng được cái, đến đây thì ông có thể gặp được bạn văn đủ các thế hệ. Riêng các buổi trưa, tôi hay hỏi chuyện ông về những nhà thơ đã khuất vắng khỏi tầm nhìn của thế hệ chúng tôi.

Có lần nhắc đến Phạm Hầu, tôi dùng bộ óc duy lý để thắc mắc câu thơ nổi tiếng trong bài "Vọng hải đài": "Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai". Tri kỷ tri âm tìm mới khó, chứ cách mặt xa lòng là lẽ thường, việc chi Phạm Hầu phải hỏi! Nhà thơ Tế Hanh phải giải thích cho tôi: "Theo cách nói của người miền Trung, xa lòng có nghĩa người một lòng với mình mà phải xa cách". Câu thơ hay thường có cái lạ là toàn bộ tiết điệu, hơi thơ, cảm xúc của nhà thơ ám ảnh ta, chiếm lấy hồn ta ngay khi ta chưa kịp thâu tóm ý nghĩa. Nhà thơ Tế Hanh khi biết cái chết thê thảm của Phạm Hầu khi ông còn rất ít tuổi đã xúc động viết một bài in trên báo Bạn Đường xuất bản ở Thanh Hóa (1944). Khi đọc tôi nghe, đôi mắt Tế Hanh mờ đục, nhưng những câu thơ của Phạm Hầu ông thuộc từ thiếu thời vẫn vằng vặc sáng trong ông:

Trong đầy ải mình trần tê ngọn lửa
Tiệc chim bằng rỉa rói một lòng đơn

Hình tượng sự cô đơn cao thượng như Prométhée lấy lửa của trời bị chim ác rỉa thịt thật kiêu hãnh! Đó phải chăng là ngọn lửa lý tưởng tự do, ông mơ được góp phần mang lại cho nhân dân, sẵn sàng chịu sự tra tấn, tù đày. Nếu còn sống, hẳn ông đã đứng trong hàng ngũ các nhà thơ cách mạng cùng với Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…

Nhờ có một số tư liệu riêng và sự bổ sung quý báu của nhà sưu tầm, biên soạn Hoàng Minh Nhân qua cuốn "Vẫy ngoài vô tận" (NXB Thanh Niên, 2001), tôi đã cung cấp được mục từ Phạm Hầu cho lần tái bản cuốn "Từ điển văn học" sắp tới (sau bộ mới, 2004) khoảng 1.200 từ
(Văn nghệ Công an)

Trang đầu  |  Trang trước  |  Trang tiếp  |  Trang cuối

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem