Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
CAO THOẠI CHÂU ,NHÀ THƠ ,NHÀ GIÁO VỚI THI PHẨM : BẢN THẢO MỘT ĐỜI  

Nhà thơ Cao Thoại Châu tên thật là Cao Ðình Vưu, sinh năm 1939 tại Giao Thủy, Nam Ðịnh, di cư vào Nam năm 1954. Ông tốt nghiệp Ðại học Sư phạm Sài Gòn năm 1962. Nhiệm sở đầu tiên của ông là Trường Trung học Thủ khoa Nghĩa ở tỉnh Châu Đốc. Sau năm 1968 ông bị động viên vào quân ngũ .Năm 1970 ông được biệt phái về Bộ Quốc gia Giáo dục và thuyên chuyển về Trường Nữ Trung học Pleime của tỉnh Pleiku. Cao Thoại Châu dạy học tại đây cho đến ngày 30.4.75.Sau 1975, ông vào trại cải tạo 3 năm và cũng như nhiều nhà giáo khác, Cao Thoại Châu phải nghỉ dạy trong một thời gian khá lâu. Trong thời gian này ông làm thợ hồ sau đấy mới được gọi đi dạy lại tại trường Trung học Phổ thông Long An. Trước năm 1975 Thơ Cao Thoại Châu xuất hiện thường xuyên trên các tạp chí văn học: Văn, Văn Học, Khởi Hành, Thời Tập… Sau 1975 ông nghỉ viết trong 15 năm. Từ 1990 thơ ông mới xuất hiện trở lại trên các báo Thanh Niên, Kiến Thức Ngày Nay, Long An Cuối Tuần… Tác phẩm đã xuất bản: • Bản thảo một đời (thơ, 1992) • Rạng đông một ngày vô định (thơ, 2006) • Ngựa hồng (thơ, 2009) • Vớt lá trên sông (tạp bút, 2010) • Vách đá cheo leo (tạp bút, 2012) ...(TRẦN DZẠ LỮ) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 19/10/2018
Nhạc sĩ Trần Hoàn và mùa xuân cho Huế

Tôi đến thăm gia đình cố nhạc sĩ Trần Hoàn trong tiết xuân lây phây mưa bụi. Bác Thanh Hồng - vợ nhạc sĩ, người con gái xứ Nghệ tạo thi hứng cho ca khúc Lời người ra đi bất tử cùng năm tháng niềm nở đón khách.



Bác đưa tôi vào căn phòng nhỏ ấm áp hương trầm có bàn thờ gia tiên, bên cạnh là bàn làm việc và tủ sách. Trên bàn ngổn ngang giấy tờ, nhạc, cùng những tập bản thảo. Từng chủ đề ca khúc được bác xếp sắp rất khoa học. Dọn dẹp bàn làm việc, bác đưa cho tôi một danh mục hơn 30 ca khúc xuân, cùng lời giới thiệu xuất xứ và cất lên lời ca minh họa khi tôi còn chưa rõ ca từ. Lại tủ sách, bác lấy đưa tôi đĩa VCD ghi lại chương trình Con đường âm nhạc “Hát về mùa xuân” đã phát trên sóng truyền hình đầu năm 2010. Đôi mắt như biết nói ấy cứ sáng lên rạng ngời cùng giai điệu xuân dìu dặt trong căn phòng ấm áp tại tư gia (số 65 ngõ Vạn Bảo, quận Ba Đình, Hà Nội). Hướng lên di ảnh chồng nồng nàn hương hoa, bác như đang trở về một thời xa xăm “Anh Hoàn mê viết nhạc, say mùa xuân. Mùa xuân luôn luôn tạo cho anh ấy những cảm xúc mới mẻ, thăng hoa, đầy sáng tạo. Cháu đọc và nghe sẽ hiểu thêm sự độc đáo trong những ca khúc mùa xuân của anh ấy, nhất là những ca khúc xuân cho Huế…”.

Quê Quảng Trị, sống, lớn lên và gắn bó máu thịt với Huế, nhạc sĩ Trần Hoàn có một tình yêu rất riêng với Huế như ông đã từng tâm sự
(LÊ THỊ BÍCH HỒNG)

Hoàng Cầm, thi sĩ xứ Kinh Bắc * ANH CHI

Nhà Thơ Hoàng Cầm tạ thế ngày 6/5/2010 tại Hà Nội (thọ 89 tuổi). Tang lễ đã được Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức trọng thể, Hồn Việt đăng bài viết này của nhà văn Anh Chi như là một nén hương tưởng niệm một nhà thơ quyến rũ, đa tình, tâm huyết với văn hóa dân tộc, với nhân dân và đất nước.


Hoàng Cầm là bút danh, còn tên khai sinh của ông là Bùi Tằng Việt, như sau này ông tâm sự: “chỉ đơn giản là vì tôi ra đời ở thôn Phúc Tằng, xã Việt Yên, Bắc Giang, nơi bố tôi ở nhờ để gõ đầu trẻ”.

Cha của Hoàng Cầm là người làng Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, nơi sinh cho dân tộc Việt ta dòng tranh Đông Hồ lừng danh, sau này đã vào thơ Hoàng Cầm, thật hay: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong / Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…

Là một nhà Nho không đỗ đạt, cụ sống bằng việc dạy chữ Hán và sau thì làm nghề bốc thuốc, chữa bệnh. Sau này, khi tâm sự, hễ nói về gia thế và quê hương là Hoàng Cầm nói đến mẹ, bởi theo ông: “mẹ là hiện thân trọn vẹn nhất, sinh động nhất của quê hương”.

Người mẹ của Hoàng Cầm là con gái làng Bựu, như Hoàng Cầm vẫn tự hào: “tất nhiên được kế thừa tinh hoa của nghệ thuật hát Quan họ”, từ thời thiếu nữ, đã nổi tiếng tài sắc khắp cả hai huyện Tiên Du, Thuận Thành (ở tả ngạn và hữu ngạn sông Đuống).

Về sau, với đôi bồ hàng xén, bà đi các chợ làng, chợ huyện, nuôi con ăn học. Hình ảnh người mẹ sau này đã vào thơ Hoàng Cầm: Những cô hàng xén răng đen / Cười như mùa thu toả nắng…

Và, rất lâu sau này, vào những năm chín mươi của thế kỷ XX, khi Hoàng Cầm đã ngoài bảy mươi tuổi, chúng tôi hay có dịp được ngồi trò chuyện tâm sự với ông ở quán nước cô Vân tại số nhà 51 phố Trần Hưng Đạo (Hà Nội). Đôi khi, chỉ chén rượu nhạt cũng khiến ông có những hồi tưởng xa xăm.( ANH CHI )


KHÚC TÂM TÌNH ĐẬM TÍNH NHÂN VĂN CỦA NGƯỜI CON XỨ QUẢNG

Cầm trên tay tập thơ “Thầm thức cùng tiếng chim” còn thơm mùi mực mới của anh Trần Phố từ Đăklăk gởi tặng, lòng tôi trào dâng xúc động. Tôi thật sự mừng cho anh Trần Phố vừa cho ra đời thi phẩm thứ hai sau tập thơ “Hoa trong cỏ” xuất bản từ năm 1992. Và, tôi chợt nhớ lại ngày xưa ở quê nhà Quảng Ngãi thân thương. Ừ, đã gần 40 năm rồi! Tôi và anh Trần Phố bặt tin nhau. Ngày xưa… chúng tôi là những người con của ruộng đồng lên tỉnh học. Tôi và anh cùng ở trọ chung nhà của một người bác họ dưới chân núi Thiên Bút. Ngày ấy, trong mắt tôi: Trần Phố là một người anh chăm học, học giỏi, lúc nào cũng nghiêm nghị như một cụ đồ. Bên trong cái vẻ ít nói, trầm ngâm, chững chạc ấy, là một tâm hồn nghệ sĩ. Thế rồi tôi xa quê hương. Anh và tôi xa nhau. Mãi đến năm 2009 vừa qua mới biết tin nhau. Chúng tôi chỉ liên hệ qua điện thoại và đọc tác phẩm của nhau qua internet. Tôi mừng khi biết anh công tác trong ngành giáo dục và có nhiều bài thơ hay đã đi vào lòng người yêu thơ.
Để cho lòng mình lắng lại trước những kỷ niệm, tôi đọc “Thầm thức cùng tiếng chim”. Đây là lần đầu tiên tôi đọc được nhiều bài thơ của Trần Phố.
“Thầm thức cùng tiếng chim” được NXB Hội nhà văn xuất bản và phát hành trong tháng 10/2010,gồm 47 bài thơ anh viết về tình yêu quê hương, về nghề, về những cái đẹp trong cuộc sống. Trong những trang đầu của tập thơ, Trần Phố tâm sự: “Làm người cũng cần chọn cho mình một sân chơi mà mình yêu thích, vừa có ích cho mình, vừa phục vụ cho đời, tôi chọn sân chơi trí tuệ, tài hoa và tao nhã: sân chơi văn nghệ, sân chơi thi ca. Trên cái sân chơi ấy có khi được, khi chưa được, nên thơ cũng có bài hay, bài chưa hay, đó là lẽ thường tình. Nhưng có một điều chắc chắn là tôi luôn hướng tới chân – thiện – mỹ, trong sáng, giản dị, cao thượng, cao cả, vì con người, vì cuộc đời. Bằng nghề ấy, bằng sân chơi ấy, tôi muốn vươn lên trên cái tầm thường và hướng tới niềm vui thanh cao”.(LÊ NGỌC TRÁC )

Chế Lan Viên: Người thẩm thơ của một thời

Trước Cách mạng tháng Tám, với tập "Điêu tàn" xuất hiện giữa làng thơ Việt tựa như "một niềm kinh dị", Chế Lan Viên đã khẳng định mình như một trong số ít những thi nhân Thơ Mới có phong cách nghệ thuật thật độc đáo, có thể trụ lại trước dòng nước bạc của thời gian.


Sau Cách mạng, nhất là trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1975, Chế Lan Viên viết khỏe, viết đều, và dù luôn bám chắc mục tiêu phục vụ chính trị, thơ ông vẫn có những tìm tòi đổi mới rất đáng kể, đủ để ông đồng hành được và trở thành một trong vài nhà thơ lớn nhất của thời đại. (Với cá nhân tôi, về chất lượng nghệ thuật, tập "Ánh sáng và phù sa" của Chế Lan Viên (in năm 1960) xứng đáng được xếp vào "chiếu nhất" của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1954-1960).

Không những thế, trong bối cảnh của một nền phê bình văn học cách mạng còn tương đối mỏng về đội ngũ, thì Chế Lan Viên- với kiến văn uyên bác, với tư duy chính luận sắc sảo, với bề dày của "văn hóa thơ", và nhất là với ý thức kiên trì đeo bám đời sống sáng tác- đã thực sự đóng vai trò của một cây bút phê bình thơ chủ lực, một người thẩm thơ đầy uy tín trên thi đàn. Nói đến di sản văn học của ông Chế, tất không thể bỏ qua mảng trước tác quan trọng này.

Nhìn vào các cuốn sách mà Chế Lan Viên đã cho in: "Nói chuyện văn thơ" (1960), "Phê bình văn học" (1961), "Vào nghề" (1962), "Suy nghĩ và bình luận" (1962- 1970), "Bay theo đường dân tộc đang bay" (1963- 1976)- đó là chưa kể đến các cuốn nằm trước và sau khoảng thời gian này: "Kinh nghiệm tổ chức sáng tác" (1951), "Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân" (1976- 1980), "Nàng tiên trên mặt đất" (1978- 1983), "Ngoại vi thơ" (1975- 1986)- ta sẽ thấy rằng sách của ông, ngoài một vài cuốn thực chất là sách phổ biến kiến thức văn chương, sách "dạy nghề" sáng tác, còn lại là tiểu luận phê bình văn học "chính ngạch", mà chủ yếu là viết về thơ
( Hoài Nam )

Nhà thơ Hoàng Trung Thông: Giữ lòng trong suốt đời- Phạm Khải


Nhà thơ Vũ Quần Phương, trong bài viết "Người vỡ đất trở về với đất" đã có một nhận xét càng ngẫm càng thấy đúng về đời thơ Hoàng Trung Thông: "Thơ anh mang những thuộc tính của đất: Chắc bền, bình dị và có sức nuôi người".



Nổi tiếng ngay từ bài thơ tốt nghiệp lớp văn hóa kháng chiến khóa 2 (năm 1948) khi mới 23 tuổi, với "Bài ca vỡ đất", Hoàng Trung Thông không những nhanh chóng tìm ra mảnh đất thi ca cần khai phá mà ông còn nhanh chóng tìm ra được một công cụ hỗ trợ thích hợp cho việc khai phá ấy: Đó là một kiểu thơ pha trộn nhiều kiểu thơ, từ tự do tới lục bát, rồi ngũ ngôn, rồi song thất lục bát…Tất cả đều mộc mạc như lời ăn tiếng nói thường ngày của người dân quê, để nói về một công việc cũng giản dị như bao công việc khác trên đời: khai khẩn đất hoang, tăng gia sản xuất. Có lẽ, trong thơ Việt Nam, hiếm bài thơ nào mà việc cuốc cày, gieo trồng cấy hái lại được nói tỉ mỉ, lặp đi lặp lại nhiều lần đến vậy: Khổ đầu đã thấy "cuốc" đất rồi, khổ thứ 5 vẫn "cuốc", khổ thứ 6 tiếp tục "cuốc", khổ thứ 7 vẫn còn "cuốc". Thậm chí, "cuốc" hăng đến mức… chệch cả vần: "Hát lên ta cuốc cho mau/ Nhanh tay ta cuốc ta đào đất lên". Và thật bất ngờ, chính ngay sau cú "cuốc chệch" ấy, nhà thơ đã làm bật lên được hai câu thơ xuất thần, với một ý thơ lóe sáng đáng nhớ nhất trong cả đời thơ của mình. Đó là những câu thơ hay bởi sức hàm chứa và mang tính khái quát cao:

Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

Thi ca Việt Nam có nhiều bài được đặt tựa đề bắt đầu bằng hai chữ "Bài ca…", nhưng không mấy bài thực sự trở thành "bài ca" như "Bài ca vỡ đất" của Hoàng Trung Thông (bởi nhạc tính của nó). Và vì là bài ca dành cho những người lao động nên nó mang giai điệu khỏe khoắn, xốc vác, yêu đời. Bài thơ mở đầu bằng một sự "tự giới thiệu" đầy phấn khích: "Chúng ta đoàn áo vải/ Sống cuộc đời rừng núi bấy nay/ Đồng xanh ta thiếu đất cày/ Nghe rừng lắm đất lên đây với rừng/ Tháng ngày ta góp sức chung/ Vun từng luống đất cuốc từng gốc cây".

Bài thơ khá dài, tường thuật một cuộc "lao động trường kỳ" nhưng người đọc không cảm thấy mệt vì đã được hỗ trợ bởi những phút… "nghỉ ngơi" hợp lý. Bài thơ có cách chuyển điệu rất nhịp nhàng. Các nhân vật trong bài có lúc rộn ý chí: "Hết khoai ta lại gieo vừng/ Không cho đất nghỉ không ngừng tay ta", lại có lúc khoan thai ngắm cảnh: "Suối chảy quanh ta/ Tiếng suối ngân nga/ Hòa theo gió núi"; có lúc cần cù, nhẫn nại: "Chúng ta một lớp người nghèo/ Giữa chiều nắng gió/ Đào cây cuốc cỏ/ Tỉa đỗ trồng khoai", lại có lúc dào lên phấn chấn: "Ngày còn dài/ Còn dai sức trẻ/ Cuốc càng khỏe/ Càng dễ cày sâu/ Cuốc lên ta cuốc cho mau/ Nhanh tay ta cuốc ta đào đất lên( PHẠM KHẢI )

Nhà thơ Thanh Tịnh: Một đoạn tơ trời lững thững bay

Khi Thạch Lam khen tác phẩm của Thanh Tịnh "Truyện ngắn nào hay đều có chất thơ, và bài thơ nào hay đều có chất truyện", tôi đồ chừng ông muốn nhắc tới hai thi phẩm "Rồi một hôm" và "Mòn mỏi" - một bài từng đoạt giải nhất cuộc thi thơ của Hà Nội báo năm 1936, và một bài đã được đưa vào bộ hợp tuyển "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh - Hoài Chân. Đây là hai bài vẫn thường được nhắc tới trong mảng thơ tiền chiến của Thanh Tịnh, cũng nằm trong số hiếm hoi những thi phẩm của Thanh Tịnh còn ngoi ngụp đến được với chúng ta ngày hôm nay.


Cả hai bài đều có chung đặc điểm là thơ phóng tác. Bài "Mòn mỏi" được phóng tác theo truyện "Barbe bleue" của nhà văn Pháp Charles Perrault. Bài "Rồi một hôm" được phóng tác theo bài "Nếu một ngày" của nhà thơ Bỉ viết tiếng Pháp Maurice Maeterlinck (giải thưởng Nobel văn học 1911).

Tôi chưa được đọc truyện của Perrault để đối chiếu xem khả năng phóng tác của Thanh Tịnh đến đâu, song tôi tin vào nhận định của các tác giả "Thi nhân Việt Nam", rằng "Thanh Tịnh đã tạo ra một không khí rất Á Đông". Cái không khí ấy nó không chỉ được thể hiện ở các hình ảnh cây liễu, con chim nhạn - những chất liệu đậm chất Á Đông, mà nó còn thể hiện ở việc tác giả cho xen vào phần thơ thất ngôn những cặp câu lục bát - là thể thơ chỉ riêng Việt Nam mới có. Bài thơ không chỉ hay ở cái tứ, với sự bất ngờ của hình ảnh chiếc yên ngựa vắng người trong câu kết, mà còn quyến rũ người đọc bởi giọng thơ da diết, chìm ngập nỗi buồn của người thiếu phụ mòn mỏi đợi chờ bóng tình quân.

Bài "Rồi một hôm" cũng được triển khai trên cái sườn hỏi - đáp, nhưng cái khác ở đây là lời mẹ và con (chứ không phải chị và em như trong bài "Mòn mỏi", cũng như trong bài "Nếu một ngày" của Maeterlinck). Gần đây, tôi có được đọc bài "Nếu một ngày" qua bản dịch của Nguyễn Viết Thắng và nhận thấy ở bản phóng tác của Thanh Tịnh có những điểm khác sau đây: Ngoài việc chuyển sự hỏi đáp từ chị - em sang mẹ - con như đã nói ở trên, Thanh Tịnh đã lược đi một khổ. Đó là khổ thứ hai. Trong bài thơ của Maeterlinck, khổ thơ này hơi tối nghĩa và là sự thêm thắt không cần thiết cho khổ thứ nhất. Việc lược đi khổ thơ này chứng tỏ Thanh Tịnh biên tập rất chắc tay. Còn về cơ bản thì khổ mở đầu bài thơ của Thanh Tịnh:

Rồi một hôm nếu về cha hỏi
Mẹ ở đâu? Con biết nói sao?
- Con hãy bảo trông cha mòn mỏi
Mẹ từ trần sau mấy tháng đau


không khác gì mấy so với khổ đầu của Maeterlinck:

Nếu một ngày người ấy quay trở lại
Thì em biết nói gì với người ta?
- Hãy nói rằng chị đã chờ mòn mỏi
Đến một hôm đã kiệt sức trông chờ


Khổ thứ hai trong bài thơ của Thanh Tịnh:

Nếu cha hỏi sao nhà vắng vẻ
Mẹ khuyên con hãy trả lời sao?
- Con hãy chỉ bình hương khói rẽ
Và trên giường chỉ đĩa dầu hao (PHẠM KHẢI)


MIÊN THẨM TÙNG THIỆN VƯƠNG- NHẤT ĐẠI THI ÔNG

… Kế thừa sự nghiệp của các Chúa Nguyễn, năm 1780, Nguyễn Phúc Ánh xưng Vương ở Gia Định. Trải qua 25 năm, kiên trì, gian nan, giữa cái sống và cái chết, Nguyễn Phúc Ánh tranh chấp, chống nhau với nhà Tây Sơn, khôi phục nhà Nguyễn. Đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh thống nhất đất nước, lên ngôi, xưng Đế, đặt Quốc hiệu là Việt Nam vào năm 1802, mở ra triều đại Gia Long. Gia Long trị vì đất nước được 18 năm. Năm 1820 truyền ngôi cho Minh Mạng. Triều đại Minh Mạng kéo dài 20 năm (1820 – 1840) , Vua Minh Mạng mất vào năm 1840. Chắc hẵn, thời kỳ Minh Mạng làm Vua là thời kỳ cực thịnh của Triều Nguyễn và của đất nước Việt Nam (Minh Mạng đặt Quốc hiệu là Đại Nam). Năm 1841, Miên Tông lên ngôi đặt niên hiệu là Thiệu Trị, trị vì đất nước được 07 năm, mất vào năm 1847. Hoàng Thái tử thứ 2 là Hồng Nhậm lên ngôi đặt niên hiệu là Tự Đức, làm Vua được 36 năm, mất vào năm 1883.
Thời kỳ Thiệu Trị và Tự Đức, vị thế của Triều Nguyễn và đất nước không còn được như thời Minh Mạng. Trong triều đình và hoàng tộc không còn có sự đoàn kết, thống nhất như trước. Đất nước loạn lạc, thiên tai, xảy ra nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, nhân dân đói khổ khắp nơi. Năm 1847, Pháp đã nổ súng đánh vào Đà Nẳng, khởi đầu xâm lăng nước ta. Thời kỳ Tự Đức hơn một nửa đất nước đã rơi vào quân Pháp xâm lược.
Miên Thẩm Tùng Thiện Vương sinh ra vào thời Gia Long, sống qua các triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Thời kỳ mà đất nước và triều đình nhà Nguyễn xảy ra nhiều sự kiện nổi bật, nhiều biến cố lịch sử dồn dập. Thân là hoàng tôn, hoàng tử, hoàng thúc, nhưng suốt cuộc đời mình, Miên Thẩm Tùng Thiện Vương không màng đến lợi danh, không dính dáng đến vòng xoáy chính trị của triều đình. Có lẽ nhờ vậy, mà Miên Thẩm Tùng Thiện Vương thoát khỏi những tranh chấp quyền lực của hoàng tộc và triều đình (sự kiện Hồng Bảo và Hồng Nhậm năm 1847). Ông giữ được tính mạng mình trong cuộc đảo chánh của Ưng Đạo (Đinh Đạo) và Đoàn Trưng vào năm Tự Đức thứ 19 - 1866).
Miên Thẩm Tùng Thiện Vương là một người có đạo đức cao, tri thức uyên bác, có uy tín lớn đối với triều đình và xã hội. Sinh thời, ông đến với mọi người, mọi tầng lớp xã hội bằng tấm lòng chân thật, rộng mở, không phân biệt địa vị quyền thế, quý phái hay nghèo nàn, bình dân.(LÊ NGỌC TRÁC )

Nhà thơ Yến Lan: Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng...

Cùng với Quách Tấn, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, Yến Lan là một trong bốn thành viên của nhóm "Bàn thành tứ hữu" (bốn người bạn thơ đất Bình Định). Nhóm thơ này nổi tiếng kỹ lưỡng về sự đẽo câu, gọt chữ.


Trong đó Yến Lan - với một sự tỉ mẩn chẳng kém cạnh ai - ở giai đoạn trước Cách mạng cũng đã ít nhiều gây được ấn tượng cùng bạn đọc bởi những câu thơ chạm khắc công phu: "Sầu tam giác buồm cô về lặng nghỉ/ Nhịp hoãn hòa đến vỗ đảo xa khơi" (bài "Xa xanh"); "Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh/ Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng" (bài "Bến My Lăng")…

ó là những câu thơ cùng khơi gợi được cái sầu mênh mang sóng nước luôn ăm ắp trong hồn tác giả, và là những câu cô đúc đến độ khó có thể… cô đúc hơn.

Nói vậy song cái gì cũng có hai mặt. Bởi quá cầu kỳ trong việc dùng chữ (nhất là lại lạm dụng Hán ngữ) nên ở bài "Bình Định 1935" - một bài được xem là chồng chất những câu thơ khó hiểu của Yến Lan, ý thơ do bị… rán kỹ quá nên có chỗ hoặc là bị… cháy, hoặc là… khô kiệt.

Có những câu bản thân tác giả phải nhiều lần giải thích với người đọc, mà càng giải thích càng… rối. Như trong bức thư Yến Lan gửi ông Khổng Đức Đinh Tấn Dung ngày 5/4/1988, hai câu thơ "Ôi Bình Định hương phong trường cách biệt/ Những bâng khuâng trong đức hạnh sương hoa" được ông giải thích như sau: "Ý chung muốn nói: Cái phố nghèo nàn này, thế nhưng là mảnh đất đầy phong vị ngọt ngào cao thượng, nó (trường vượt thời gian) bị phong kín thành cõi cô liêu, xa cách với mọi nơi khác, nhưng cái vòng vây phong kín ấy đầy hương hoa, đầy tâm tư hoạt bát…(trường ở đây như nông trường, lâm trường)".

Thật là một cách giải thích lòng vòng, đến độ người được giải thích chẳng những không nghe lời tác giả mà sau đó lại có cách giải thích riêng của mình, rằng "Hương phong trường cách biệt" là "phong cảnh của trường thi hương Bình Định thời xa xưa giờ có còn chăng chỉ là sương hoa đức hạnh với nỗi niềm bâng khuâng nhớ lại những gì đã mất". Đây quả là một trường hợp hiếm gặp: Đến độc giả cũng muốn hiểu ý câu thơ khác với tinh thần của tác giả, chỉ bởi câu thơ quá… "kín nghĩa".
Hẳn là nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhớ tới những câu thơ kiểu này của Yến Lan khi viết trong "Thi nhân Việt Nam": "Xem thơ Yến Lan, tôi mơ màng như đi trong mây mù. Khi đầu thì cũng hay hay, nhưng dần lâu cơ hồ ngạt thở".

Vẫn biết, thơ hay không nhất thiết phải bài nào, câu nào cũng ý tứ rõ ràng, song nhìn chung, thơ Yến Lan thời kỳ trước Cách mạng hiếm bài đi vào tâm trí bạn đọc chính bởi tác giả quá nệ vào kỹ thuật, "già nhân tạo" mà "át thiên chân". Ông quá chú trọng tới sự chạm khắc, tỉa tót trong câu mà ít để ý tới mạch chung toàn bài (là điều mà cả Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên đều không dám buông lơi). (Phạm Khải)


Trang đầu  |  Trang trước  |  Trang tiếp  |  Trang cuối

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem